Men gan cao có nguy hiểm không?

Rượu bia, thuốc lá, viêm gan virus, tiếp xúc hóa chất môi trường độc hại… là những nguyên nhân hàng đầu khiến cho men gan tăng cao. Nhiều người rất chủ quan khi xét nghiệm thấy men gan chỉ tăng nhẹ mà vẫn giữ những thói quen sinh hoạt ăn uống không lành mạnh, không hề biết điều này có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường. Vậy men gan cao có nguy hiểm không, mời bạn đọc cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

Men gan cao có nguy hiểm không?

1. Thế nào là men gan cao?

  Men gan là gì?

Men gan là các hợp chất có vai trò là các chất xúc tác sinh học cho các phản ứng sinh hóa ở gan.

Có 4 loại men gan khác nhau được đưa vào trong các xét nghiệm thông thường đó là: Aspartate aminotransferase (AST hoặc SGOT) và Alanine aminotransferase (ALT hoặc SGPT) được biết đến với tên gọi transaminase; và 2 loại men còn lại là Phosphatase kiềm (ALP) và Gamma-glutamyl transferase (GGT)

  Chỉ số bình thường của men gan

Chỉ số bình thường của AST và ALT ở người khỏe mạnh ở mức dưới 40 UI/L. Còn mức bình thường của ALP trong khoảng 25-85 UI/L, của GGT dao động trong khoảng dưới 60 UI/L.

  Thế nào là men gan cao?

Khi một nguyên nhân nào đó khiến cho gan bị tổn thương, các tế bào gan bị phá hủy sẽ dẫn đến men gan bị giải phóng vào máu, chỉ số men gan lúc này sẽ tăng cao hơn so với ngưỡng bình thường trên, được gọi là men gan cao (hay tăng men gan).

2. Men gan cao có nguy hiểm không?

Trong đa số trường hợp, men gan cao có liên quan đến viêm và tổn thương tế bào gan (đối với các transaminase AST và ALT), hoặc là biểu hiện của tắc mật hoặc tổn thương, viêm đường mật (đối với GGT và ALP).

  Với transaminase:

Những nguyên nhân làm tăng nồng độ AST và ALT có thể kể đến: Viêm gan virus, gan nhiễm mỡ, bệnh gan do rượu, bệnh gan do thuốc, viêm gan tự miễn, u gan, suy gan, luyện tập gắng sức. Mức tăng AST và ALT nhẹ là dưới 2 lần ngưỡng bình thường (40-80 UI/L), tăng trung bình là dưới 5 lần ngưỡng bình thường (80-200 UI/L), còn tăng trên 5 lần ngưỡng bình thường là men gan tăng cao mức độ nặng. Mức độ tăng men gan tỉ lệ thuận với nguy cơ tử vong, cụ thể nếu men gan tăng nhẹ thì tăng nguy cơ tử vong 21-32%, men gan tăng trung bình hoặc tăng cao thì tỉ lệ tử vong tăng 59-78%.

Do AST được tìm thấy ở nhiều cơ quan khác ngoài gan như thận, cơ, tim nên việc tăng AST không phải lúc nào cũng phản ánh chính xác mức độ tổn thương gan. Ngược lại, ALT được tìm thấy chủ yếu ở gan nên đây là chỉ số phản ánh cụ thể hơn tình trạng hủy hoại của tế bào gan. Men gan càng cao, chứng tỏ tế bào gan đang bị hủy hoại càng mạnh. Mặc dù gan có cơ chế tự bù trừ, tức là phục hồi và sản sinh tế bào gan bù đắp lại cho số lượng tế bào bị phá hủy, tuy nhiên đến một ngưỡng nào đó gan sẽ không đáp ứng được cơ chế này nữa và sẽ dẫn đến xơ gan, ung thư gan, tử vong.

Tỉ lệ tăng AST và ALT cũng có vai trò gợi ý đến mức độ và nguyên nhân gây bệnh. Hầu hết trong các bệnh về gan thì ALT tăng cao hơn AST, tuy nhiên đối với bệnh nhân xơ gan hoặc nghiện rượu thì tỉ lệ tăng AST/ALT là 2:1. Ngược lại ở bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu thì ALT lại thường cao hơn AST.

Chỉ số men gan ALT, AST tăng cao có nguy hiểm không?

Mặc dù AST và ALT tăng chứng tỏ gan đang gặp vấn đề và các tế bào gan đang bị phá hủy, tuy nhiên trong một số trường hợp thì transaminase có nồng độ bình thường hoặc tăng rất nhẹ lại không hề phản ánh việc gan đang ở trạng thái khỏe mạnh. Ví dụ, 1 bệnh nhân đã bị tổn thương gan nhiều năm do uống rượu nhiều nhưng xét nghiệm hiện tại không thấy men gan tăng cũng không có nghĩa là gan không bị tổn thương.

Men gan tăng nhẹ hoặc trung bình thường gặp trong viêm gan virus mạn tính, viêm gan tự miễn, ứ sắt, bệnh celiac. Tăng men gan mức độ nặng có thể gặp trong viêm gan virus cấp hoặc viêm gan do thuốc, có thể tăng lên đến 3000 UI/L, thậm chí ở bệnh nhân suy gan cấp hoặc sốc gan thì men gan có thể tăng đến 5000 UI/L

  Với GGT và ALP:

Nồng độ GGT và ALP tăng có thể do các nguyên nhân như: xơ gan mật tiên phát, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, viêm đường mật xơ hóa tiên phát, bệnh gan do rượu, u gan, bệnh gan do thuốc, sỏi mật.

Hai chỉ số men gan này tăng khi có các tổn thương hoặc viêm đường mật, tắc mật, với đặc trưng là tình trạng không lưu thông đường mật, gọi là ứ mật. Ứ mật có thể xảy ra trong gan hoặc ngoài gan. Ứ mật trong gan gặp ở bệnh xơ gan mật tiên phát hoặc ung thư gan, ứ mật ngoài gan gặp ở bệnh sỏi mật.

Chỉ số men gan GGT tăng cao có nguy hiểm không?

Khi bị viêm tắc đường mật, GGT và ALP có thể tăng gấp 10 lần ngưỡng trên của giá trị bình thường. Vì ALP không chỉ được tìm thấy ở gan mà còn có mặt trong nhiều cơ quan khác như ruột, thận, nhau thai, còn GGT thì tìm thấy chủ yếu ở gan, do đó chỉ số GGT phản ánh vấn đề về gan mật chính xác hơn ALP. GGT có thể tăng mà ALP vẫn ở mức bình thường do GGT rất nhạy cảm với nguyên nhân do rượu và các thuốc độc cho gan. Ở những người hút thuốc, ALP và GGT thường cao hơn rất nhiều so với người bình thường.

Trong một số trường hợp men gan tăng nhẹ, người bệnh có thể không thấy biểu hiện triệu chứng gì, tuy nhiên khi đó gan đã đang gặp tổn thương. Nếu người bệnh chủ quan không điều trị mà vẫn sử dụng rượu bia hoặc các thuốc độc hại cho gan thì sẽ càng làm cho tế bào gan bị hủy hoại, có thể dẫn đến viêm gan cấp, hôn mê gan nguy hiểm đến tính mạng.

Sau khi đọc xong bài viết này, chắc chắn bạn đọc đã có câu trả lời cho câu hỏi: “Men gan cao có nguy hiểm không?”. Men gan cao không chỉ phản ánh tình trạng bất thường của gan, mà nếu không được điều trị kịp thời thì men gan cao còn dẫn đến rất nhiều biến chứng xấu như viêm gan mạn tính, xơ gan, ung thư gan. Do đó, khi gặp tình trạng men gan cao, bệnh nhân nên được điều trị để hạ men gan một cách triệt để đồng thời xử lý các bệnh kèm theo để bảo vệ lá gan một cách kịp thời.

Bác Sĩ Chuyên Khoa II / Nguyên Vụ Trưởng VỤ YHCT – Bộ Y Tế/ Thầy thuốc ưu tú, BS.LG / Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT quốc tế Hồng Kông

— Đánh Giá Chất Lượng Bài Viết —

Sending
User Review
0 (0 votes)

– Viêm Gan B –

Các Triệu Chứng, Chẩn Đoán, Biến Chứng

Viêm gan siêu vi B là bệnh truyền nhiễm, gây tổn thương tế bào gan do virus viêm gan B gây ra. Việt Nam nằm trong vùng dịch tễ lưu hành virus viêm gan B. Các dấu hiệu và biểu hiện của viêm gan B rất đa dạng từ nhẹ đến nặng. Viêm gan B tiến triển và gây các biến chứng nghiêm trọng cho gan, như xơ gan, ung thư gan. Bài viết này BACSINET hi vọng cung cấp các biểu hiện, tiêu chuẩn chẩn đoán trên lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh.

Các biểu hiện của viêm gan siêu vi B

Bệnh được chia làm 2 giai đoạn: cấp tính và mạn tính. Giai đoạn cấp tính kéo dài khoảng 6 tháng. Các dấu hiệu nhiễm viêm gan B giai đoạn cấp tính thường gặp, bao gồm:

  • Biểu hiện giống cúm: mệt, sốt, đau nhức người;
  • Chán ăn;
  • Tiêu chảy;
  • Đau bụng;
  • Vàng da, vàng mắt.

Ở giai đoạn cấp tính, dựa vào biểu hiện viêm gan virus B được chia thành các thể khác nhau: Thể vàng da điển hình, thể không vàng da, thể vàng da kéo dài.

Bệnh nhân mắc viêm gan B cấp tính có thể dẫn tới 1 trong 3 tình huống:

  • Tiến trình thành viêm gan tối cấp và tử vong do suy gan

Do tế bào gan bị tổn thương nhiều và nghiêm trọng, dẫn tới suy gan cấp, hoặc thậm chí tử vong. Tỷ lệ dẫn tới viêm gan tối cấp khoảng 1%

  • Phục hồi sau khi nhiễm trùng và tạo ra miễn dịch bảo vệ

Hệ miễn dịch của cơ thể có thể loại bỏ virus viêm gan B sau vài tháng, tạo ra miễn dịch bảo vệ suốt đời. Hiện nay không có thuốc điều trị viêm gan B cấp, mà chỉ có thuốc điều trị hỗ trợ.

  • Tiến triển thành viêm gan B mạn

Hệ miễn dịch cơ thể không thể chống lại sự tấn công của virus viêm gan B, dẫn tới viêm gan B mạn tính. Bệnh nhân cần khám, theo dõi và sàng lọc ung thư gan định kỳ để phát hiện sớm tổn thương gan.

Các tiêu chí sử dụng trong chẩn đoán viêm gan B

Virus viêm gan B làm tấn công và làm tổn thương tế bào gan. Do đó các chẩn đoán viêm gan B dựa trên sự có mặt các kháng nguyên và kháng thể virus viêm gan B, các chỉ số bilirubin, men gan (AST và ALT), cũng như dựa trên hình ảnh trên mô bệnh học.

Virus HBV có 3 loại kháng nguyên HBsAg, HBeAg, HBcAg, tương ứng với 3 loại kháng nguyên trên là 3 loại kháng thể Anti-HBs, Anti-HBe, Anti-HBc.

Chẩn đoán xác định viêm gan B

Theo Quyết định số 5448/QĐ-BYT ngày 30 tháng 12, tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan virus B như sau:

Đối với viêm gan B cấp tính 

Cần chẩn đoán phân biệt với

– Các loại viêm gan khác như: viêm gan nhiễm độc, viêm gan do virus khác (viêm gan virus A, viêm gan vi rút E, viêm gan virus C), viêm gan tự miễn, viêm gan do rượu…

– Các nguyên nhân gây vàng da khác:

+ Vàng da trong một số bệnh nhiễm khuẩn: Bệnh do Leptospira, sốt rét, sốt xuất huyết…

+ Vàng da do tắc mật cơ học: u đầu tụy, u đường mật, sỏi đường mật,…

Viêm gan B mạn tính

– HBsAg (+) > 6 tháng hoặc HBsAg (+) và Anti HBc IgG (+).

– AST,ALT tăng từng đợt hoặc liên tục trên 6 tháng.

– Có  bằng chứng tổn thương mô  bệnh học tiến triển, xơ gan (được  xác định bằng sinh thiết gan hoặc đo độ đàn hồi  gan hoặc Fibrotest hoặc chỉ số APRI) mà không do căn nguyên khác

Các biến chứng của viêm gan B

Viêm gan B mạn tính có thể tiến triển thành: xơ gan, ung thư gan, viêm gan tối cấp đặc biệt là ở bệnh nhân mắc viêm gan B mạn tính và không được điều trị.

Xơ gan

Cứ 1 trong 5 bệnh nhân viêm gan B mạn tính có thể diễn tiến thành xơ gan (sẹo hóa do tế bào gan bị tổn thương) nhiều năm sau đó. Xơ gan thường diễn biến âm thầm, không có biểu hiện rõ ràng gây chú ý cho đến khi gan bị tổn thương nặng, dẫn đến: yếu mệt, chán ăn, giảm cân, ốm, ngứa da, đau hoặc trướng bụng, sưng các mắt cá chân (biểu hiện của phù).

Hiện nay, chưa có phương pháp nào điều trị xơ gan, các mục tiêu điều trị hiện này đều hướng đến điều trị triệu chứng và làm chậm quá trình tiến triển của bệnh. Nếu gan bị tổn thương nặng nề, không thể thực hiện các chức năng nữa, bệnh nhân cần được ghép gan.

Ung thư gan

Bệnh nhân xơ gan do viêm gan B có 1/20 khả năng tiến triển thành ung thư gan. Các biểu hiện của ung thư gan bao gồm: giảm cân không rõ nguyên nhân, chán ăn, cảm giác no sau khi ăn, dù ăn rất ít; cảm thấy mệt, vàng da, vàng mắt, cường lách.

Can thiệp ngoại khoa là chỉ định đối với bệnh nhân ung thư gan, bao gồm phẫu thuật loại bỏ khối u hoặc ghép gan.

Viêm gan B tối cấp

Khoảng dưới 1 trong 100 trường hợp viêm gan B cấp tính có thể chuyển thành viêm gan B tối cấp. Bệnh nhân mắc thể viêm gan B tối cấp do hệ miễn dịch tấn công gan và gây ra những tổn thương sâu rộng cho gan. Các triệu chứng của viêm gan B tối cấp gồm: lẫn lộn, ngất, cổ trướng do chất long, và vàng da nặng.

Viêm gan B tối cấp có thể dẫn tới gan ngừng hoạt động, và bệnh nhân thường tử vong nếu cấp cứu không kịp thời.

Kết luận

Viêm gan B là bệnh lây truyền, để lại những biến chứng nghiêm trọng và nặng nề cho gan. Tuy nhiên, dấu hiệu và biểu hiện của bệnh không rõ ràng và thường phát triển lặng lẽ, tiến triển âm thầm. Do đó đa số người nhiễm virus viêm gan B không biết mình đang nhiễm bệnh, và có thể lây nhiễm qua người khác. Khi bạn có những dấu hiệu trên đây, hãy đến các trung tâm y tế để thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán bệnh. Bạn hãy đi khám sức khỏe định kỳ phát hiện bệnh kịp thời và có kế hoạch quản lý bệnh, cũng như tiêm vaccine viêm gan B dự phòng để bảo vệ sức khỏe của mình trước sự tấn công của virus.

Bác Sĩ Chuyên Khoa II / Nguyên Vụ Trưởng VỤ YHCT – Bộ Y Tế/ Thầy thuốc ưu tú, BS.LG / Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT quốc tế Hồng Kông

— Đánh Giá Chất Lượng Bài Viết —

Sending
User Review
4.6 (5 votes)

ĐIỀU TRỊ BỆNH BẰNG THẢO DƯỢC AN TOÀN & HIỆU QUẢ

ATISO

Atiso được từ xưa đã được nhiều người tin dùng vì loại hoa này không những thơm ngon mà còn rất tốt cho sức khỏe. Atiso không chỉ phổ biến tại Việt Nam, mà còn được người dân trên khắp thế giới sử dụng bời atiso có nhiều công dụng y học và gần như không có tác dụng phụ. Hoạt chất chính của atiso là cynarin, ngoài ra còn có inulin, inulinase, tanin, các muối hữu cơ của các kim loại Kali, Canxi, Magie, Natri… Atiso có tác dụng hạ cholesterolurê trong máu, tạo mật, tăng tiết mật, lợi tiểu, thường được làm thuốc thông mật, thông tiểu tiện, chữa các chứng bệnh về gan, thận.

CÂY KẾ SỮA

Cây kế sữa hay còn được biết đến qua tên gọi kế thánh, kế đức mẹ, cúc gai, là một loại thực vật có hoa phổ biến thuộc họ Cúc có tên khoa học là Silybum marianum. Ngày nay, hoạt chất silymarin chiết xuất từ cây kế sữa được bào chế dưới dạng thực phẩm chức năng và được sử dụng rộng rãi ở Mỹ và châu Âu. Chúng cũng đã sớm du nhập vào nhiều quốc gia ở châu Á, trong đó có Việt Nam và được sử dụng như một liệu pháp bổ sung cho những người bị tổn thương gan do các bệnh lý như xơ gan do rượu, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, viêm gan. Đồng thời, cây kế sữa giúp sửa chữa các tế bào bị tổn thương, tăng cường phát triển các tế bào gan mới, hỗ trợ điều trị xơ gan hiệu quả.

ĐIỀU TRỊ BỆNH BẰNG THẢO DƯỢC AN TOÀN & HIỆU QUẢ

Atiso

Atiso được từ xưa đã được nhiều người tin dùng vì loại hoa này không những thơm ngon mà còn rất tốt cho sức khỏe. Atiso không chỉ phổ biến tại Việt Nam, mà còn được người dân trên khắp thế giới sử dụng bời atiso có nhiều công dụng y học và gần như không có tác dụng phụ. Hoạt chất chính của atiso là cynarin, ngoài ra còn có inulin, inulinase, tanin, các muối hữu cơ của các kim loại Kali, Canxi, Magie, Natri… Atiso có tác dụng hạ cholesterol và urê trong máu, tạo mật, tăng tiết mật, lợi tiểu, thường được làm thuốc thông mật, thông tiểu tiện, chữa các chứng bệnh về gan, thận.

Cây Kế Sữa

Cây kế sữa hay còn được biết đến qua tên gọi kế thánh, kế đức mẹ, cúc gai, là một loại thực vật có hoa phổ biến thuộc họ Cúc có tên khoa học là Silybum marianum. Ngày nay, hoạt chất silymarin chiết xuất từ cây kế sữa được bào chế dưới dạng thực phẩm chức năng và được sử dụng rộng rãi ở Mỹ và châu Âu. Chúng cũng đã sớm du nhập vào nhiều quốc gia ở châu Á, trong đó có Việt Nam và được sử dụng như một liệu pháp bổ sung cho những người bị tổn thương gan do các bệnh lý như xơ gan do rượu, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, viêm gan. Đồng thời, cây kế sữa giúp sửa chữa các tế bào bị tổn thương, tăng cường phát triển các tế bào gan mới, hỗ trợ điều trị xơ gan hiệu quả.

TRUNG TÂM TƯ VẤN SỨC KHỎE

  • G.Đ TRUNG TÂM

  • B.S. PHẠM HƯNG CỦNG

  • Nguyên Vụ Trưởng VỤ YHCT - Bộ Y Tế

Bác Sĩ Chuyên Khoa 2/ Thầy thuốc ưu tú Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT Quốc Tế Hồng Kông

> LIÊN HỆ TRUNG TÂM BÁC SĨ TƯ VẤN

1800 - 6036

Cửa sổ tin nhắn

VNBACSI.net

Tham Gia Cộng Đồng:

+ Tư Vấn Bệnh Xương Khớp

+ Tư Vấn Bệnh Tiêu Hóa

+Tư Vấn Bệnh Tiểu Đường

> NHẬN TƯ VẤN TỪ CHUYÊN GIA







TRUNG TÂM B.S. TƯ VẤN 

Th.S. B.S. CKII - PHẠM HƯNG CỦNG

  • Nguyên Vụ Trưởng Vụ YHCT - Bộ Y Tế
  • Thầy thuốc ưu tú - Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT quốc tế Hồng Kông
  • Phó Viện trưởng Viện châm cứu Việt Nam
  • Phó Viện trưởng Viện Khoa học ứng dụng Y học dân tộc và Dưỡng sinh Việt Nam
  • Được Bộ y tế trao tặng giải thưởng Hải Thượng Nãn Ông Lê Hữu Trác.

Trưởng Khoa Đông Y - Bệnh Viện Quân Đội 108

  • Đại Tá - Thạc sĩ Bác sĩ: HOÀNG KHÁNH TOÀN
  • Trưởng Khoa Đông Y Bệnh Viện Quân Đội 108.
  • Ông có nhiều nghiên cứu Đông y tốt cho sức khỏe. Bác sĩ được trao tặng danh hiệu Thầy Thuốc Ưu Tú

> LIÊN HỆ TRUNG TÂM BÁC SĨ TƯ VẤN

1800 - 6036

Cửa sổ tin nhắn

VNBACSI.net

> NHẬN TƯ VẤN TỪ CHUYÊN GIA







— QUẢNG CÁO —
.

————————————

— QUẢNG CÁO —

Leave A Comment

error: