Gan Nhiễm Mỡ Xơ Gan Giải Độc Gan Ung Thư Gan
Viêm Gan
Viêm Gan A
Viêm Gan B
Viêm Gan C
Gan Nhiễm Mỡ Xơ Gan Giải Độc Gan Ung Thư Gan
Viêm Gan Viêm Gan B
Viêm Gan A Viêm Gan C

CÁC XÉT NGHIỆM CHỨC NĂNG GAN

Xét nghiệm chức năng gan là xét nghiệm máu, là một trong các biện pháp kiểm tra chức năng gan cùng với siêu âm,… để đánh giá hoạt động, trạng thái của tế bào gan. Bài viết dưới đây sẽ cho bạn những thông tin về các xét nghiệm chức năng gan, mục đích, các chỉ số cần xét nghiệm, cần lưu ý những gì khi làm các xét nghiệm chức năng gan này.

Xét nghiệm kiểm tra chức năng gan là gì?

Xét nghiệm chức năng gan bản chất là đo nồng độ protein và enzyme do gan sản xuất trong máu. Enzyme là các loại protein đặc biệt, làm chất xúc tác, thúc đẩy các phản ứng của cơ thể. Nồng độ enzyme gan trong máu cho biết mức độ tổn thương của gan.

Chức năng sinh lý của gan rất phức tạp, vì vậy, các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan cũng vô cùng phong phú. Các bác sĩ sẽ lựa chọn những hạng mục tiêu biểu để tìm hiểu về chức năng của gan có đang hoạt động bình thường hay không. Thông qua các kết quả xét nghiệm, bác sĩ chuyên khoa có thể chẩn đoán, đánh giá về hoạt động chức năng gan và có hướng điều chỉnh nếu nó đang hoạt động không tốt để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân.

Hầu hết các bệnh nhân mắc bệnh về gan như: viêm gan B, viêm gan C, xơ gan, gan nhiễm mỡ,…đều có thể khiến chức năng gan suy giảm, do đó những tổn thương mà bệnh có thể gây ra cho gan và sức khỏe của bệnh nhân là khó lường trước được.

Tại sao cần làm xét nghiệm chức năng gan?

Mục đích của việc làm xét nghiệm chức năng gan bao gồm:

  • Phát hiện sớm các bệnh lý về gan
  • Theo dõi quá trình diễn biến của các bệnh lý về gan để đánh giá phác đồ điều trị đang áp dụng có hiệu quả hay không.
  • Theo dõi tác dụng phụ của thuốc.
  •  Đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh, đặc biệt là xơ gan.
  • Kiểm tra sức khỏe định kỳ.

xet-nghiem-chuc-nang-gan

Xét nghiệm chức năng gan giúp đánh giá tình trạng bệnh

Các đối tượng cần làm xét nghiệm chức năng gan?

Người sử dụng rượu bia, đang dùng thuốc điều trị bệnh lý trong đó có thuốc làm tăng men gan, người sắp kết hôn, người quan hệ tình dục không an toàn, phụ nữ mang thai, người chưa tiêm phòng viêm gan B, người béo phì, tiểu đường, máu nhiễm mỡ, người đang điều trị bệnh gan,… nên làm xét nghiệm chức năng gan.

Các chỉ số xét nghiệm chức năng gan?

Các chỉ số trong xét nghiệm chức năng gan thường được chia thành 3 nhóm chính:

1. Nhóm xét nghiệm đánh giá tình trạng hoại tử gan: AST, ALT, LDH, ferritin

♦ Enzym chuyển hóa amino acid (aminotransferase)

AST (Aspartate aminotransferase) và ALT (Alanine aminotransferase) là các enzyme chuyển hóa nhóm –NH2 của aspartate và alanine. Sự gia tăng nồng độ enzyme này trong máu phản ánh tình trạng tổn thương tế bào gan.

AST còn gọi là SGOT (Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase) có ở cơ tim và cơ vân nhiều hơn ở gan, ngoài ra còn có ở thận, não, tụy, phổi, bạch cầu, hồng cầu. AST cũng thường tăng trong các trường hợp nhồi máu cơ tim.

ALT còn gọi là SGPT (Serum Glutamic Pyruvic Transaminase) hiện diện chủ yếu ở bào tương của tế bào gan nên sự tăng ALT nhạy và đặc hiệu hơn AST trong các bệnh gan.

  Trị số ALT, AST bình thường < 40 UI/l. AST và ALT ở nam cao hơn nữ, thay đổi theo độ tuổi, cân nặng.

    AST, ALT tăng cao (> 3000 UI/l) thường trong các bệnh viêm gan virus cấp hoặc mạn tính, tổn thương gan do thuốc, chất độc, trụy mạch kéo dài.

    AST, ALT tăng vừa (< 300 UI/l) trong viêm gan do rượu. AST tăng nhiều hơn ALT nhưng không quá 2-10 lần giới hạn bình thường.

    AST, ALT tăng nhẹ (< 100 UI/l) trong viêm gan virus cấp nhẹ và bệnh gan mạn tính như xơ gan, viêm gan mạn, di căn gan, tắc mật.

♦ LDH (lactat dehydrogenase): là enzyme có ở khắp các mô trong cơ thể. LDH tăng cao và thoáng qua trong các trường hợp hoại tử tế bào gan, sốc gan. Trị số bình thường LDH từ 5-30 UI/l.

♦ Ferritin: Là protein dự trữ sắt trong tế bào. Trong viêm gan cấp, mạn, đặc biệt là viêm gan virus C, ferritin tăng cao. Trị số Ferritin bình thường ở nam 100 – 300 mg/L, ở nữ 50 – 200 mg/L.

xet-nghiem-chuc-nang-gan2. Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng bài tiết và khử độc

♦ Bilirubin

Bilirubin huyết thanh: là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin (hem – chiếm 90%) và các enzyme có chứa hem. Có hai loại bilirubin là bilirubin gián và bilirubin trực tiếp. Bilirubin gián tiếp còn gọi là bilirubin tự do, tan trong mỡ, gắn với albumin – một loại protein huyết tương nên không lọc được qua cầu thận. Khi đến gan, bilirubin gián tiếp liên hợp với acid glucuronic thành bilirubin trực tiếp – còn gọi là bilirubin liên hợp, tan trong nước, bài tiết vào mật.

Trị số bình thường bilirubin huyết thanh toàn phần từ 0,8 – 1,2 mg/dL, bilirubin gián tiếp 0,6 – 0,8 mg/dL, bilirubin trực tiếp 0,2 – 0,4 mg/dL. Tăng bilirubin gián tiếp hiếm khi do bệnh gan mà có thể do tăng sản xuất bilirubin trong các bệnh lý tán huyết, tạo hồng cầu không hiệu quả, tái hấp thu từ khối máu tụ,… Tăng bilirubin trực tiếp có liên quan đến bệnh lý gan mật. 

Bilirubin niệu: Chỉ hiện diện ở dạng bilirubin trực tiếp. Khi có bilirubin niệu chắc chắn có vấn đề về gan mật. Chỉ số này có thể phát hiện bằng que nhúng xét nghiệm nước tiểu thông thường.

Urobilinogen

Là chất chuyển hóa của bilirubin tại ruột, tái hấp thu vào máu theo chu trình ruột – gan và bài tiết qua nước tiểu. Trong trường hợp tắc mật hoàn toàn, sẽ không có urobilinogen trong nước tiểu. Urobilinogen tăng trong nước tiểu gặp trong trường hợp tán huyết (tăng sản xuất), xuất huyết tiêu hóa hoặc bệnh lý gan. Bình thường urobilinogen 0,2 – 1,2 đơn vị (phương pháp Watson).

♦ ALP (phosphatase kiềm)

ALP là enzym thủy phân các ester phosphat trong môi trường kiềm (pH = 9). Nguồn gốc chủ yếu của ALP là ở gan và xương. Ở ruột, thận và nhau thai thì ít hơn. Bình thường ALP 25 – 85 U/L.

Xét nghiệm enzym ALP rất nhạy để phát hiện có tắc đường mật. Khi ALP tăng đơn thuần có thể là một dấu hiệu chỉ dẫn cho các bệnh gan do thâm nhiễm như ung thư, áp xe, u hạt, thoái hóa dạng bột. Sự tăng ALP do nguyên nhân ở gan thường đi kèm với sự tăng của men GGT và 5’-nucleotidase.

♦ 5NT (5’ Nucleotidase)

Đây là một ALP tương đối chuyên biệt cho gan, giúp xác định tình trạng tăng ALP là do gan hay do xương hoặc do các trạng thái sinh lý như trẻ em đang tuổi tăng trưởng hoặc phụ nữ có thai. Sự tăng 5NT có tương quan với mức tăng ALP. Bình thường 5NT 0,3 – 2,6 đơn vị Bodansky/dL.

♦ GGT (g-glutamyl transferase )

GGT xúc tác sự chuyển nhóm g-glutamyl từ những peptid đến những acid amin khác và giữ vai trò vận chuyển acid amin. GGT được tìm thấy ở nồng độ cao trong ống mật. Đây là một xét nghiệm rất nhạy để đánh giá rối loạn chức năng bài tiết của gan nhưng không đặc hiệu do bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. 

Bình thường GGT # 30 U/L ở nữ và # 50 U/L ở nam.

Tăng GGT đơn thuần là tình trạng nghiện rượu mạn tính, tắc mật, sau uống một số thuốc gây cảm ứng enzym ở gan (acetaminophen, phenytoin) và một số trường hợp gan nhiễm mỡ không do rượu. GGT còn tăng trong nhiều tình huống khác như suy thận, nhồi máu cơ tim, viêm tụy cấp, đái tháo đường, cường giáp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

♦ NH3 (ammoniac máu)

NH3 sinh ra do sự chuyển hóa protein trong cơ thể và do vi khuẩn sống ở đại tràng. Gan giữ nhiệm vụ khử độc NH3 bằng cách chuyển thành urê để thải qua thận. Cơ vân cũng giữ vai trò khử độc NH3 bằng cách gắn với acid glutamic để tạo thành glutamin. Bình thường NH3 máu 5 – 69 mg/dL. NH3 tăng trong các bệnh gan cấp và mạn tính. Nồng độ NH3 trong máu động mạch chính xác hơn trong máu tĩnh mạch vì không bị ảnh hưởng của NH3 từ ruột.

3. Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng tổng hợp

♦ Protein máu: do phần lớn protein huyết tương được tổng hợp từ gan.

Albumin huyết thanh: Gan là nơi duy nhất tổng hợp albumin cho cơ thể (Albumin là một protein giúp duy trì áp lực keo trong lòng mạch và là chất vận chuyển các chất trong máu đặc biệt là thuốc). Bình thường albumin 35 -55 g/L.

Do khả năng dự trữ của gan rất lớn và thời gian bán hủy của albumin kéo dài (khoảng 3 tuần) nên lượng albumin máu chỉ giảm trong các bệnh gan mạn tính (xơ gan) hoặc khi tổn thương gan rất nặng.

Giảm albumin huyết thanh còn gặp trong suy dinh dưỡng hoặc bị mất albumin bất thường qua đường tiểu (hội chứng thận hư) hoặc qua đường tiêu hóa (viêm đại tràng mạn). Ở bệnh nhân bị vàng da sậm, albumin có thể bị giảm tương đối (giảm giả tạo) do bilirubin tăng cao gây cản trở việc định lượng albumin.

Globulin huyết thanh: Được sản xuất từ nhiều nơi khác nhau trong cơ thể, bao gồm protein vận chuyển các chất trong máu và các kháng thể tham gia hệ thống miễn dịch dịch thể. Giá trị bình thường của globulin là 20 – 35 g/L.

Tăng globulin gặp trong các trường hợp xơ gan, viêm gan tự miễn, xơ gan ứ mật nguyên phát.

Điện di protein huyết thanh: cho biết tỉ lệ thành phần các protein trong huyết thanh. Tỉ số albumin/globulin (A/G) <1 gặp trong viêm gan mạn tính, xơ gan.

Thời gian prothrombin (PT) hay thời gian Quick (TQ)

TQ là một xét nghiệm khảo sát con đường đông máu ngoại sinh. Bình thường TQ 11 – 13 phút (tương ứng với 80 – 100% hàm lượng prothrombin). Để chuẩn hóa kết quả PT, người ta thường chuyển đổi thành INR (International Normalized Ratio), trị số bình thường của INR = 0,8 – 1,2.

Những lưu ý khi kiểm tra chức năng gan

  • Nên làm vào buổi sáng
  • Không ăn trước khi xét nghiệm: Khi làm các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan, cần phải nhịn ăn ít nhất từ 4-6 tiếng để kết quả được chính xác.
  • Không sử dụng bất kỳ thuốc nào: Các loại thuốc kháng sinh, thuốc bổ, chữa bệnh, thực phẩm chức năng,… không được sử dụng trước khi làm xét nghiệm vì việc dùng thuốc sẽ làm ảnh hưởng tới kết quả các chỉ số trong xét nghiệm.
  • Không uống rượu bia thuốc lá: tất cả các chất kích thích có chứa nicotin hoặc đồ uống có cồn không tốt cho sức khỏe của bạn, đồng thời khiến các chỉ số kiểm tra bị sai lệch, do đó bạn cần ngưng sử dụng rượu bia thuốc lá ít nhất 4h trước khi tiến hành các xét nghiệm này.

 Xét nghiệm chức năng gan là việc làm vô cùng cần thiết vì có nhiều khi bệnh đã tiến triển trong khi chúng ta vẫn cảm thấy cơ thể khỏe mạnh và sinh hoạt bình thường. Vì vậy, chúng ta cần theo dõi sức khỏe bằng cách đi kiểm tra chức năng gan thường xuyên 6 tháng 1 lần, đặc biệt ở những người có nguy cơ cao mắc các bệnh gan để có thể phát hiện sớm và ngăn chặn những tiến triển của bệnh.

Bác Sĩ Chuyên Khoa II / Nguyên Vụ Trưởng VỤ YHCT – Bộ Y Tế/ Thầy thuốc ưu tú, BS.LG / Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT quốc tế Hồng Kông

— Đánh Giá Chất Lượng Bài Viết —

Sending
User Review
5 (1 vote)

Xét nghiệm chức năng gan là xét nghiệm máu, là một trong các biện pháp kiểm tra chức năng gan cùng với siêu âm,… để đánh giá hoạt động, trạng thái của tế bào gan. Bài viết dưới đây sẽ cho bạn những thông tin về các xét nghiệm chức năng gan, mục đích, các chỉ số cần xét nghiệm, cần lưu ý những gì khi làm các xét nghiệm chức năng gan này.

Xét nghiệm kiểm tra chức năng gan là gì?

Xét nghiệm chức năng gan bản chất là đo nồng độ protein và enzyme do gan sản xuất trong máu. Enzyme là các loại protein đặc biệt, làm chất xúc tác, thúc đẩy các phản ứng của cơ thể. Nồng độ enzyme gan trong máu cho biết mức độ tổn thương của gan.

Chức năng sinh lý của gan rất phức tạp, vì vậy, các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan cũng vô cùng phong phú. Các bác sĩ sẽ lựa chọn những hạng mục tiêu biểu để tìm hiểu về chức năng của gan có đang hoạt động bình thường hay không. Thông qua các kết quả xét nghiệm, bác sĩ chuyên khoa có thể chẩn đoán, đánh giá về hoạt động chức năng gan và có hướng điều chỉnh nếu nó đang hoạt động không tốt để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân.

Hầu hết các bệnh nhân mắc bệnh về gan như: viêm gan B, viêm gan C, xơ gan, gan nhiễm mỡ,…đều có thể khiến chức năng gan suy giảm, do đó những tổn thương mà bệnh có thể gây ra cho gan và sức khỏe của bệnh nhân là khó lường trước được.

Tại sao cần làm xét nghiệm chức năng gan?

Mục đích của việc làm xét nghiệm chức năng gan bao gồm:

  • Phát hiện sớm các bệnh lý về gan
  • Theo dõi quá trình diễn biến của các bệnh lý về gan để đánh giá phác đồ điều trị đang áp dụng có hiệu quả hay không.
  • Theo dõi tác dụng phụ của thuốc.
  •  Đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh, đặc biệt là xơ gan.
  • Kiểm tra sức khỏe định kỳ.

xet-nghiem-chuc-nang-gan

Xét nghiệm chức năng gan giúp đánh giá tình trạng bệnh

Các đối tượng cần làm xét nghiệm chức năng gan?

Người sử dụng rượu bia, đang dùng thuốc điều trị bệnh lý trong đó có thuốc làm tăng men gan, người sắp kết hôn, người quan hệ tình dục không an toàn, phụ nữ mang thai, người chưa tiêm phòng viêm gan B, người béo phì, tiểu đường, máu nhiễm mỡ, người đang điều trị bệnh gan,… nên làm xét nghiệm chức năng gan.

Các chỉ số xét nghiệm chức năng gan?

Các chỉ số trong xét nghiệm chức năng gan thường được chia thành 3 nhóm chính:

1. Nhóm xét nghiệm đánh giá tình trạng hoại tử gan: AST, ALT, LDH, ferritin

♦ Enzym chuyển hóa amino acid (aminotransferase)

AST (Aspartate aminotransferase) và ALT (Alanine aminotransferase) là các enzyme chuyển hóa nhóm –NH2 của aspartate và alanine. Sự gia tăng nồng độ enzyme này trong máu phản ánh tình trạng tổn thương tế bào gan.

AST còn gọi là SGOT (Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase) có ở cơ tim và cơ vân nhiều hơn ở gan, ngoài ra còn có ở thận, não, tụy, phổi, bạch cầu, hồng cầu. AST cũng thường tăng trong các trường hợp nhồi máu cơ tim.

ALT còn gọi là SGPT (Serum Glutamic Pyruvic Transaminase) hiện diện chủ yếu ở bào tương của tế bào gan nên sự tăng ALT nhạy và đặc hiệu hơn AST trong các bệnh gan.

  Trị số ALT, AST bình thường < 40 UI/l. AST và ALT ở nam cao hơn nữ, thay đổi theo độ tuổi, cân nặng.

    AST, ALT tăng cao (> 3000 UI/l) thường trong các bệnh viêm gan virus cấp hoặc mạn tính, tổn thương gan do thuốc, chất độc, trụy mạch kéo dài.

    AST, ALT tăng vừa (< 300 UI/l) trong viêm gan do rượu. AST tăng nhiều hơn ALT nhưng không quá 2-10 lần giới hạn bình thường.

    AST, ALT tăng nhẹ (< 100 UI/l) trong viêm gan virus cấp nhẹ và bệnh gan mạn tính như xơ gan, viêm gan mạn, di căn gan, tắc mật.

♦ LDH (lactat dehydrogenase): là enzyme có ở khắp các mô trong cơ thể. LDH tăng cao và thoáng qua trong các trường hợp hoại tử tế bào gan, sốc gan. Trị số bình thường LDH từ 5-30 UI/l.

♦ Ferritin: Là protein dự trữ sắt trong tế bào. Trong viêm gan cấp, mạn, đặc biệt là viêm gan virus C, ferritin tăng cao. Trị số Ferritin bình thường ở nam 100 – 300 mg/L, ở nữ 50 – 200 mg/L.

xet-nghiem-chuc-nang-gan2. Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng bài tiết và khử độc

♦ Bilirubin

Bilirubin huyết thanh: là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin (hem – chiếm 90%) và các enzyme có chứa hem. Có hai loại bilirubin là bilirubin gián và bilirubin trực tiếp. Bilirubin gián tiếp còn gọi là bilirubin tự do, tan trong mỡ, gắn với albumin – một loại protein huyết tương nên không lọc được qua cầu thận. Khi đến gan, bilirubin gián tiếp liên hợp với acid glucuronic thành bilirubin trực tiếp – còn gọi là bilirubin liên hợp, tan trong nước, bài tiết vào mật.

Trị số bình thường bilirubin huyết thanh toàn phần từ 0,8 – 1,2 mg/dL, bilirubin gián tiếp 0,6 – 0,8 mg/dL, bilirubin trực tiếp 0,2 – 0,4 mg/dL. Tăng bilirubin gián tiếp hiếm khi do bệnh gan mà có thể do tăng sản xuất bilirubin trong các bệnh lý tán huyết, tạo hồng cầu không hiệu quả, tái hấp thu từ khối máu tụ,… Tăng bilirubin trực tiếp có liên quan đến bệnh lý gan mật. 

Bilirubin niệu: Chỉ hiện diện ở dạng bilirubin trực tiếp. Khi có bilirubin niệu chắc chắn có vấn đề về gan mật. Chỉ số này có thể phát hiện bằng que nhúng xét nghiệm nước tiểu thông thường.

Urobilinogen

Là chất chuyển hóa của bilirubin tại ruột, tái hấp thu vào máu theo chu trình ruột – gan và bài tiết qua nước tiểu. Trong trường hợp tắc mật hoàn toàn, sẽ không có urobilinogen trong nước tiểu. Urobilinogen tăng trong nước tiểu gặp trong trường hợp tán huyết (tăng sản xuất), xuất huyết tiêu hóa hoặc bệnh lý gan. Bình thường urobilinogen 0,2 – 1,2 đơn vị (phương pháp Watson).

♦ ALP (phosphatase kiềm)

ALP là enzym thủy phân các ester phosphat trong môi trường kiềm (pH = 9). Nguồn gốc chủ yếu của ALP là ở gan và xương. Ở ruột, thận và nhau thai thì ít hơn. Bình thường ALP 25 – 85 U/L.

Xét nghiệm enzym ALP rất nhạy để phát hiện có tắc đường mật. Khi ALP tăng đơn thuần có thể là một dấu hiệu chỉ dẫn cho các bệnh gan do thâm nhiễm như ung thư, áp xe, u hạt, thoái hóa dạng bột. Sự tăng ALP do nguyên nhân ở gan thường đi kèm với sự tăng của men GGT và 5’-nucleotidase.

♦ 5NT (5’ Nucleotidase)

Đây là một ALP tương đối chuyên biệt cho gan, giúp xác định tình trạng tăng ALP là do gan hay do xương hoặc do các trạng thái sinh lý như trẻ em đang tuổi tăng trưởng hoặc phụ nữ có thai. Sự tăng 5NT có tương quan với mức tăng ALP. Bình thường 5NT 0,3 – 2,6 đơn vị Bodansky/dL.

♦ GGT (g-glutamyl transferase )

GGT xúc tác sự chuyển nhóm g-glutamyl từ những peptid đến những acid amin khác và giữ vai trò vận chuyển acid amin. GGT được tìm thấy ở nồng độ cao trong ống mật. Đây là một xét nghiệm rất nhạy để đánh giá rối loạn chức năng bài tiết của gan nhưng không đặc hiệu do bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. 

Bình thường GGT # 30 U/L ở nữ và # 50 U/L ở nam.

Tăng GGT đơn thuần là tình trạng nghiện rượu mạn tính, tắc mật, sau uống một số thuốc gây cảm ứng enzym ở gan (acetaminophen, phenytoin) và một số trường hợp gan nhiễm mỡ không do rượu. GGT còn tăng trong nhiều tình huống khác như suy thận, nhồi máu cơ tim, viêm tụy cấp, đái tháo đường, cường giáp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

♦ NH3 (ammoniac máu)

NH3 sinh ra do sự chuyển hóa protein trong cơ thể và do vi khuẩn sống ở đại tràng. Gan giữ nhiệm vụ khử độc NH3 bằng cách chuyển thành urê để thải qua thận. Cơ vân cũng giữ vai trò khử độc NH3 bằng cách gắn với acid glutamic để tạo thành glutamin. Bình thường NH3 máu 5 – 69 mg/dL. NH3 tăng trong các bệnh gan cấp và mạn tính. Nồng độ NH3 trong máu động mạch chính xác hơn trong máu tĩnh mạch vì không bị ảnh hưởng của NH3 từ ruột.

3. Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng tổng hợp

♦ Protein máu: do phần lớn protein huyết tương được tổng hợp từ gan.

Albumin huyết thanh: Gan là nơi duy nhất tổng hợp albumin cho cơ thể (Albumin là một protein giúp duy trì áp lực keo trong lòng mạch và là chất vận chuyển các chất trong máu đặc biệt là thuốc). Bình thường albumin 35 -55 g/L.

Do khả năng dự trữ của gan rất lớn và thời gian bán hủy của albumin kéo dài (khoảng 3 tuần) nên lượng albumin máu chỉ giảm trong các bệnh gan mạn tính (xơ gan) hoặc khi tổn thương gan rất nặng.

Giảm albumin huyết thanh còn gặp trong suy dinh dưỡng hoặc bị mất albumin bất thường qua đường tiểu (hội chứng thận hư) hoặc qua đường tiêu hóa (viêm đại tràng mạn). Ở bệnh nhân bị vàng da sậm, albumin có thể bị giảm tương đối (giảm giả tạo) do bilirubin tăng cao gây cản trở việc định lượng albumin.

Globulin huyết thanh: Được sản xuất từ nhiều nơi khác nhau trong cơ thể, bao gồm protein vận chuyển các chất trong máu và các kháng thể tham gia hệ thống miễn dịch dịch thể. Giá trị bình thường của globulin là 20 – 35 g/L.

Tăng globulin gặp trong các trường hợp xơ gan, viêm gan tự miễn, xơ gan ứ mật nguyên phát.

Điện di protein huyết thanh: cho biết tỉ lệ thành phần các protein trong huyết thanh. Tỉ số albumin/globulin (A/G) <1 gặp trong viêm gan mạn tính, xơ gan.

Thời gian prothrombin (PT) hay thời gian Quick (TQ)

TQ là một xét nghiệm khảo sát con đường đông máu ngoại sinh. Bình thường TQ 11 – 13 phút (tương ứng với 80 – 100% hàm lượng prothrombin). Để chuẩn hóa kết quả PT, người ta thường chuyển đổi thành INR (International Normalized Ratio), trị số bình thường của INR = 0,8 – 1,2.

Những lưu ý khi kiểm tra chức năng gan

  • Nên làm vào buổi sáng
  • Không ăn trước khi xét nghiệm: Khi làm các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan, cần phải nhịn ăn ít nhất từ 4-6 tiếng để kết quả được chính xác.
  • Không sử dụng bất kỳ thuốc nào: Các loại thuốc kháng sinh, thuốc bổ, chữa bệnh, thực phẩm chức năng,… không được sử dụng trước khi làm xét nghiệm vì việc dùng thuốc sẽ làm ảnh hưởng tới kết quả các chỉ số trong xét nghiệm.
  • Không uống rượu bia thuốc lá: tất cả các chất kích thích có chứa nicotin hoặc đồ uống có cồn không tốt cho sức khỏe của bạn, đồng thời khiến các chỉ số kiểm tra bị sai lệch, do đó bạn cần ngưng sử dụng rượu bia thuốc lá ít nhất 4h trước khi tiến hành các xét nghiệm này.

 Xét nghiệm chức năng gan là việc làm vô cùng cần thiết vì có nhiều khi bệnh đã tiến triển trong khi chúng ta vẫn cảm thấy cơ thể khỏe mạnh và sinh hoạt bình thường. Vì vậy, chúng ta cần theo dõi sức khỏe bằng cách đi kiểm tra chức năng gan thường xuyên 6 tháng 1 lần, đặc biệt ở những người có nguy cơ cao mắc các bệnh gan để có thể phát hiện sớm và ngăn chặn những tiến triển của bệnh.

Bác Sĩ Chuyên Khoa II / Nguyên Vụ Trưởng VỤ YHCT – Bộ Y Tế/ Thầy thuốc ưu tú, BS.LG / Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT quốc tế Hồng Kông

— Đánh Giá Chất Lượng Bài Viết —

Sending
User Review
5 (1 vote)

ĐIỀU TRỊ BỆNH BẰNG THẢO DƯỢC AN TOÀN & HIỆU QUẢ

ATISO

Atiso được từ xưa đã được nhiều người tin dùng vì loại hoa này không những thơm ngon mà còn rất tốt cho sức khỏe. Atiso không chỉ phổ biến tại Việt Nam, mà còn được người dân trên khắp thế giới sử dụng bời atiso có nhiều công dụng y học và gần như không có tác dụng phụ. Hoạt chất chính của atiso là cynarin, ngoài ra còn có inulin, inulinase, tanin, các muối hữu cơ của các kim loại Kali, Canxi, Magie, Natri… Atiso có tác dụng hạ cholesterolurê trong máu, tạo mật, tăng tiết mật, lợi tiểu, thường được làm thuốc thông mật, thông tiểu tiện, chữa các chứng bệnh về gan, thận.

CÂY KẾ SỮA

Cây kế sữa hay còn được biết đến qua tên gọi kế thánh, kế đức mẹ, cúc gai, là một loại thực vật có hoa phổ biến thuộc họ Cúc có tên khoa học là Silybum marianum. Ngày nay, hoạt chất silymarin chiết xuất từ cây kế sữa được bào chế dưới dạng thực phẩm chức năng và được sử dụng rộng rãi ở Mỹ và châu Âu. Chúng cũng đã sớm du nhập vào nhiều quốc gia ở châu Á, trong đó có Việt Nam và được sử dụng như một liệu pháp bổ sung cho những người bị tổn thương gan do các bệnh lý như xơ gan do rượu, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, viêm gan. Đồng thời, cây kế sữa giúp sửa chữa các tế bào bị tổn thương, tăng cường phát triển các tế bào gan mới, hỗ trợ điều trị xơ gan hiệu quả.

ĐIỀU TRỊ BỆNH BẰNG THẢO DƯỢC AN TOÀN & HIỆU QUẢ

Atiso

Atiso được từ xưa đã được nhiều người tin dùng vì loại hoa này không những thơm ngon mà còn rất tốt cho sức khỏe. Atiso không chỉ phổ biến tại Việt Nam, mà còn được người dân trên khắp thế giới sử dụng bời atiso có nhiều công dụng y học và gần như không có tác dụng phụ. Hoạt chất chính của atiso là cynarin, ngoài ra còn có inulin, inulinase, tanin, các muối hữu cơ của các kim loại Kali, Canxi, Magie, Natri… Atiso có tác dụng hạ cholesterol và urê trong máu, tạo mật, tăng tiết mật, lợi tiểu, thường được làm thuốc thông mật, thông tiểu tiện, chữa các chứng bệnh về gan, thận.

Cây Kế Sữa

Cây kế sữa hay còn được biết đến qua tên gọi kế thánh, kế đức mẹ, cúc gai, là một loại thực vật có hoa phổ biến thuộc họ Cúc có tên khoa học là Silybum marianum. Ngày nay, hoạt chất silymarin chiết xuất từ cây kế sữa được bào chế dưới dạng thực phẩm chức năng và được sử dụng rộng rãi ở Mỹ và châu Âu. Chúng cũng đã sớm du nhập vào nhiều quốc gia ở châu Á, trong đó có Việt Nam và được sử dụng như một liệu pháp bổ sung cho những người bị tổn thương gan do các bệnh lý như xơ gan do rượu, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, viêm gan. Đồng thời, cây kế sữa giúp sửa chữa các tế bào bị tổn thương, tăng cường phát triển các tế bào gan mới, hỗ trợ điều trị xơ gan hiệu quả.

TRUNG TÂM TƯ VẤN SỨC KHỎE

  • G.Đ TRUNG TÂM

  • B.S. PHẠM HƯNG CỦNG

  • Nguyên Vụ Trưởng VỤ YHCT - Bộ Y Tế

Bác Sĩ Chuyên Khoa 2/ Thầy thuốc ưu tú Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT Quốc Tế Hồng Kông

> LIÊN HỆ TRUNG TÂM BÁC SĨ TƯ VẤN

1800 - 6036

Cửa sổ tin nhắn

VNBACSI.net

Tham Gia Cộng Đồng:

+ Tư Vấn Bệnh Xương Khớp

+ Tư Vấn Bệnh Tiêu Hóa

+Tư Vấn Bệnh Tiểu Đường

> NHẬN TƯ VẤN TỪ CHUYÊN GIA







TRUNG TÂM B.S. TƯ VẤN 

Th.S. B.S. CKII - PHẠM HƯNG CỦNG

  • Nguyên Vụ Trưởng Vụ YHCT - Bộ Y Tế
  • Thầy thuốc ưu tú - Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT quốc tế Hồng Kông
  • Phó Viện trưởng Viện châm cứu Việt Nam
  • Phó Viện trưởng Viện Khoa học ứng dụng Y học dân tộc và Dưỡng sinh Việt Nam
  • Được Bộ y tế trao tặng giải thưởng Hải Thượng Nãn Ông Lê Hữu Trác.

Trưởng Khoa Đông Y - Bệnh Viện Quân Đội 108

  • Đại Tá - Thạc sĩ Bác sĩ: HOÀNG KHÁNH TOÀN
  • Trưởng Khoa Đông Y Bệnh Viện Quân Đội 108.
  • Ông có nhiều nghiên cứu Đông y tốt cho sức khỏe. Bác sĩ được trao tặng danh hiệu Thầy Thuốc Ưu Tú

> LIÊN HỆ TRUNG TÂM BÁC SĨ TƯ VẤN

1800 - 6036

Cửa sổ tin nhắn

VNBACSI.net

> NHẬN TƯ VẤN TỪ CHUYÊN GIA







— QUẢNG CÁO —
.

————————————

— QUẢNG CÁO —

BÀI VIẾT HAY NÊN ĐỌC

Gan Nhiễm Mỡ Xơ Gan Giải Độc Gan Ung Thư Gan
Viêm Gan
Viêm Gan A
Viêm Gan B
Viêm Gan C
Gan Nhiễm Mỡ Xơ Gan Giải Độc Gan Ung Thư Gan
Viêm Gan Viêm Gan B
Viêm Gan A Viêm Gan C

Leave A Comment

error: