ĐẢNG SÂM

Sơ lược

Tê khác: Xuyên đảng sâm, Lộ đảng sâm, Phòng đảng sâm, Rây cáy (Lạng sơn), mần cáy.

Tên khoa học: Codonopsis sp.

Họ khoa học: Họ Hoa Chuông (Campanulaceae).

Đảng sâm là rễ phơi hay sấy khô của nhiều loài Codonopsis như Codonopsis pilosula (Franch) Nannf. Codonopsis tangshen Oliv. Và một số loài khác đều thuộc họ Hoa chuông.

Tên Đảng sâm là do vị thuốc giống như sâm, xuất xứ ở một địa phương là quận Thượng Đảng (Trung Quốc).

Mô tả cây

Cây cỏ, sống lâu năm, leo bằng thân quấn. Rễ hình trụ dài, đường kính có thể đạt 1-2cm. Đầu rễ phình to có nhiều vết sẹo lồi của thân cũ, phía dưới có khi phân nhánh, càng nhỏ về phía đuôi, lúc tươi màu trắng, sau khô thì rễ có màu vàng, có các vết nhăn dọc.

Thân mọc bò trên mặt đất hay leo vào cây khác, phân nhánh nhiều, có lông thưa, phần ngọn không lông. Toàn cây có nhựa mủ trắng.

dang-sam

Hình 1: Lá, thân leo và hoa đảng sâm

Lá mọc đối, so le hoặc có khi gần như mọc vòng. Cuống lá dài 0.5-4cm, phiến lá hình tim hoặc hình trứng dài, đuôi lá nhọn, dài 1-7cm, rộng 0.8-5.5cm, mép nguyên hoặc hơi lượn sóng, hoặc có răng cưa, mặt trên lá có màu xanh nhạt, mặt dưới màu trắng xám, nhẵn hoặc có long rải rác.

Hoa màu xanh nhạt, mọc riêng lẻ ở kẽ nách lá, có cuống dài 2-6cm, đài tràng hình chuông, gồm 5 phiến hẹp, 5 cánh có vân màu tím ở họng, lúc sắp rụng trở thành màu vàng nhạt, chia làm 5 thùy, 5 nhị, chỉ nhị hơi dẹt, bao phấn đính gốc, bầu hình cầu có 5 ô.

dang-sam

Hình 2: Hoa đảng sâm

Quả nang, hình cầu, phía trên có 1 núm nhỏ hình nón, đầu hơi bằng, có đài ngắn. Quả chín màu tím hoặc tím đỏ tự nứt ra. Có nhiều hạt màu vàng nhạt và nhẵn bóng.

dang-sam

Hình 3: Quả đảng sâm

Phân bố, sinh thái

Cho đến năm 1960, Đảng sâm ở các hiệu thuốc vẫn được nhập chủ yếu từ Trung Quốc và Triều Tiên.

Ở Việt Nam, trong thời gian 1961-1985 viện Dược liệu đã phát hiện Đảng sâm ở 14 tỉnh miền núi phía Bắc, còn ở phía Nam, chỉ có ở khu vực Tây nguyên. Vùng phân bố tập trung nhất ở các tỉnh Lai châu, Sơn la, Lào cai, Hà giang, Cao bằng, Lạng sơn, Gia lai, Kon tum, Quảng nam, Đà nẵng, Lâm đồng.

Việc trồng đảng sâm cần được chú ý bởi lược khai thác vẫn chưa đủ dùng.

Đảng sâm ưa những nơi đất cát có nhiều mùn và ưa bóng râm. Cây dạng thân leo nên khi trồng cần làm giàn cao tầm 2m.

Bộ phận dùng, chế biến

Bộ phận dùng làm thuốc là Rễ cây đảng sâm (Radix Codonopsis)

dang-sam

Hình 4: Đảng sâm tươi và khô

Thu hoạch vào mùa đông, lúc cây đã úa vàng, rụng lá hoặc tới đầu xuân năm sau lúc cây chưa đâm chồi nảy lộc. Đào rễ phải dài sâu trên 0,7m, vì rễ rất dài, để tránh làm trầy xát. Rửa sạch đất cát, phân loại rễ to nhỏ để riêng, phơi riêng trên giàn từng loại đến lúc nào rễ bẻ không gãy là đạt bó từng bó đem phơi. Làm vậy khi khô rễ vẫn mềm, phẳng, vỏ không bị bong và cứng lại. Nhiều nơi lấy lạt hoặc chỉ xâu rễ thành chuỗi ở đầu củ đem treo ở nơi thoáng gió, phơi khô rồi cuộn lại thành bó.

Mô tả dược liệu

Rễ hình trụ, thon dần về phía đuôi, có khi phân nhánh, dài 10-15cm, đường kính 0,5-2cm, bên ngoài mầu vàng nâu nhạt, trên có những rạch dọc ngang. Chất hơi chắc và dai, mặt bẻ hơi phẳng, thịt trắng ngà, mùi thơm, vị ngọt dịu.

Thành phần hóa học

Đảng sâm có đường, saponin, chất béo, một số alcaloid, vitamin, protein.

Tác dụng dược lý

+ Tác dụng bổ dưỡng, tăng sức: Đảng sâm có tác dụng bổ dưỡng toàn thân, giúp tăng hấp thu chất dinh dưỡng, tăng sức khỏe  chung của cơ thể.

+ Đối với hệ tiêu hóa: dịch của Đảng sâm làm tăng trương lực của hồi tràng chuột, bảo vệ rõ rệt đối với 4 loại mô hình gây loét bao tử ở súc vật (gây loét do kích thích, gây viêm, gây loét do Acid Acetic, loét do thắt môn vị).

+ Đối với máu và hệ thống tạo máu: Nước, cồn và nước sắc Đảng sâm đều có tác dụng làm tăng số lượng hồng cầu, huyết sắc tố, làm giảm số lượng bạch cầu

+ Đối với đường huyết: Dịch chiết Đảng sâm gây tăng đường huyết, ảnh hưởng này được cho là do thành phần đường trong đảng sâm gây nên.

+ Đối với tim mạch, huyết áp: Dịch chiết đảng sâm có tác dụng hạ huyết áp trên động vật thí nghiệm. Tác giả nghiên cứu cho rằng hiện tượng hạ huyết áp không liên quan đến thành phần đường trong Đảng sâm mà là do giãn mạch ngoại vi. Đảng sâm còn có tác dụng ức chế hiện tượng cao huyết áp do Adrenalin gây ra.

+ Tăng khả năng miễn dịch của cơ thể: Đảng sâm làm tăng chức năng của tủy xương sản sinh ra các tế bào có hoạt tính miễn dịch và các dưỡng bào, do đó đã điều hòa và làm giảm hội chứng siu giảm miễn dịch ở động vật thí nghiệm.

+ Kháng viêm, hóa đàm, chỉ khái (giảm ho).

+ Kháng khuẩn: Trên thực nghiệm ‘In Vitro’ thấy Đảng sâm có tác dụng kháng khuẩn ở mức độ khác nhau đối với các loại vi khuẩn sau: Não mô cầu khuẩn, Trực khuẩn bạch hầu, Trực khuẩn và Phó trực khuẩn đại tràng, Tụ cầu khuẩn vàng, Trực khuẩn lao ở người.

+ Ngoài ra, Đảng sâm còn có tác dụng phát triển nội mạc tử cung: Kiểu Progesteron mức độ nhẹ (trên thỏ nhỏ), gây tăng trương lực cổ tử cung, tiết sữa ở súc vật mẹ cho con bú.

Tính vị, công năng

Rễ đảng sâm có vị ngọt, tính bình

Quy kinh: Tỳ, Phế

Tác dụng: Bổ trung, ích khí, sinh tân chỉ khát

Trị tỳ vị hư yếu, khí huyết đều suy, không có sức, ăn ít, khát, tiêu chảy lâu ngày, phế hư sinh ho.

Công dụng, liều dùng

Đảng sâm có thể dùng thay thế nhân sâm trong các bệnh thiếu máu, da vàng, bệnh bạch huyết, viêm thượng thận. Còn dùng làm thuốc bổ dạ dày, chữa ho, tiêu đờm, lợi tiểu tiện.  

Ngày dùng 6 – 12g, có thể tăng tới 30g, dùng dưới dạng thuốc sắc. Uống luôn 7-14 ngày.

Các bài thuốc có đảng sâm

  1.     Bổ trung ích khí thang: Bổ tỳ vị, thăng dương, ích khí.

Hoàng kỳ 20g, Chích thảo 4g, Thăng ma 4-6g, Đảng sâm 12-16g, Đương quy 12g, Sài hồ 6-10g, Bạch truật 12g, Trần bì 4-6g.

  1.     Sâm linh bạch truật tán: Ích khí kiện tỳ, thẩm thấp chỉ tả

Đảng sâm 12g, Bạch linh 12g, Bạch truật 12g, Chích cam thảo 12g, Hoài sơn 12g, Bạch biển đậu 10-12g, Liên nhục 10-12g, Ý dĩ 10-12g, Cát cánh 6-8g, Sa nhân 6-8g.

  1.     Bồi dưỡng cơ thể, chữa thận suy, đau lưng, mỏi gối, đái rắt

Đảng sâm 20g, tắc kè 6g, huyết giác 1g, trần bì 1g, tiểu hồi 0.5g. rượu 40 độ 250ml, đường đủ ngọt. Các vị thuốc cắt nhỏ, ngâm rượu trong 1 tháng, mỗi lần uống 300ml, ngày uống 1-2 lần.

  1.     Chữa cơ thể suy nhược mệt mỏi, ăn không ngon, đại tiện lỏng

Đảng sâm 20g, bạch truật sao, đương quy, ba kích, mối vị 12g. Sắc uống, hoặc tán bột làm viên với mật ong, uống mỗi ngày 12-10g.

  1.     Chữa bệnh ho không có sức, thở gấp, mệt mỏi vô lực

Đảng sâm 16g, hoàng kỳ 12g, cam thảo, nhục quế, mỗi vị 6g. sắc uống

  1.     Chữa chán ăn, kém ăn, khó tiêu

Đảng sâm 16g, bạch truật 12g, phục linh 8g, cam thảo 4g. Sắc uống

  1.     Chữa viêm loét dạ dày

Đảng sâm 16g, đất lòng bếp (hoàng thổ) 40g, a giao, phụ tử chế, bạch truật, địa hoàng, cam thảo, hoàng cầm, mỗi vị 12g. Sắc uống.

Thận trọng

Có thực tà, cấm dùng. Không dùng chung với vị Lê lô.

Nếu dùng Sâm lượng quá lớn (mỗi liều quá 63g Đảng sâm) gây cho bệnh nhân khó chịu vùng trước tim và nhịp tim không đều, ngưng thuốc thì hết (theo Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).

Kết luận

Đảng sâm một trong những vị thuốc quý có nhiều công dụng. Người ta còn gọi Đảng sâm là nhân sâm của người nghèo vì có mọi công dụng của nhân sâm mà lại rẻ tiền. Việc mua đảng sâm dùng là không khó, tuy nhiên, để việc sử dụng đảng sâm được hiệu quả và an toàn, người bệnh nên dùng theo các đơn của các thầy thuốc, tránh tự ý chế biến sử dụng bởi cách chế biến có thể sai, làm giảm tác dụng của vị thuốc.

Sơ lược

Tê khác: Xuyên đảng sâm, Lộ đảng sâm, Phòng đảng sâm, Rây cáy (Lạng sơn), mần cáy.

Tên khoa học: Codonopsis sp.

Họ khoa học: Họ Hoa Chuông (Campanulaceae).

Đảng sâm là rễ phơi hay sấy khô của nhiều loài Codonopsis như Codonopsis pilosula (Franch) Nannf. Codonopsis tangshen Oliv. Và một số loài khác đều thuộc họ Hoa chuông.

Tên Đảng sâm là do vị thuốc giống như sâm, xuất xứ ở một địa phương là quận Thượng Đảng (Trung Quốc).

Mô tả cây

Cây cỏ, sống lâu năm, leo bằng thân quấn. Rễ hình trụ dài, đường kính có thể đạt 1-2cm. Đầu rễ phình to có nhiều vết sẹo lồi của thân cũ, phía dưới có khi phân nhánh, càng nhỏ về phía đuôi, lúc tươi màu trắng, sau khô thì rễ có màu vàng, có các vết nhăn dọc.

Thân mọc bò trên mặt đất hay leo vào cây khác, phân nhánh nhiều, có lông thưa, phần ngọn không lông. Toàn cây có nhựa mủ trắng.

dang-sam

Hình 1: Lá, thân leo và hoa đảng sâm

Lá mọc đối, so le hoặc có khi gần như mọc vòng. Cuống lá dài 0.5-4cm, phiến lá hình tim hoặc hình trứng dài, đuôi lá nhọn, dài 1-7cm, rộng 0.8-5.5cm, mép nguyên hoặc hơi lượn sóng, hoặc có răng cưa, mặt trên lá có màu xanh nhạt, mặt dưới màu trắng xám, nhẵn hoặc có long rải rác.

Hoa màu xanh nhạt, mọc riêng lẻ ở kẽ nách lá, có cuống dài 2-6cm, đài tràng hình chuông, gồm 5 phiến hẹp, 5 cánh có vân màu tím ở họng, lúc sắp rụng trở thành màu vàng nhạt, chia làm 5 thùy, 5 nhị, chỉ nhị hơi dẹt, bao phấn đính gốc, bầu hình cầu có 5 ô.

dang-sam

Hình 2: Hoa đảng sâm

Quả nang, hình cầu, phía trên có 1 núm nhỏ hình nón, đầu hơi bằng, có đài ngắn. Quả chín màu tím hoặc tím đỏ tự nứt ra. Có nhiều hạt màu vàng nhạt và nhẵn bóng.

dang-sam

Hình 3: Quả đảng sâm

Phân bố, sinh thái

Cho đến năm 1960, Đảng sâm ở các hiệu thuốc vẫn được nhập chủ yếu từ Trung Quốc và Triều Tiên.

Ở Việt Nam, trong thời gian 1961-1985 viện Dược liệu đã phát hiện Đảng sâm ở 14 tỉnh miền núi phía Bắc, còn ở phía Nam, chỉ có ở khu vực Tây nguyên. Vùng phân bố tập trung nhất ở các tỉnh Lai châu, Sơn la, Lào cai, Hà giang, Cao bằng, Lạng sơn, Gia lai, Kon tum, Quảng nam, Đà nẵng, Lâm đồng.

Việc trồng đảng sâm cần được chú ý bởi lược khai thác vẫn chưa đủ dùng.

Đảng sâm ưa những nơi đất cát có nhiều mùn và ưa bóng râm. Cây dạng thân leo nên khi trồng cần làm giàn cao tầm 2m.

Bộ phận dùng, chế biến

Bộ phận dùng làm thuốc là Rễ cây đảng sâm (Radix Codonopsis)

dang-sam

Hình 4: Đảng sâm tươi và khô

Thu hoạch vào mùa đông, lúc cây đã úa vàng, rụng lá hoặc tới đầu xuân năm sau lúc cây chưa đâm chồi nảy lộc. Đào rễ phải dài sâu trên 0,7m, vì rễ rất dài, để tránh làm trầy xát. Rửa sạch đất cát, phân loại rễ to nhỏ để riêng, phơi riêng trên giàn từng loại đến lúc nào rễ bẻ không gãy là đạt bó từng bó đem phơi. Làm vậy khi khô rễ vẫn mềm, phẳng, vỏ không bị bong và cứng lại. Nhiều nơi lấy lạt hoặc chỉ xâu rễ thành chuỗi ở đầu củ đem treo ở nơi thoáng gió, phơi khô rồi cuộn lại thành bó.

Mô tả dược liệu

Rễ hình trụ, thon dần về phía đuôi, có khi phân nhánh, dài 10-15cm, đường kính 0,5-2cm, bên ngoài mầu vàng nâu nhạt, trên có những rạch dọc ngang. Chất hơi chắc và dai, mặt bẻ hơi phẳng, thịt trắng ngà, mùi thơm, vị ngọt dịu.

Thành phần hóa học

Đảng sâm có đường, saponin, chất béo, một số alcaloid, vitamin, protein.

Tác dụng dược lý

+ Tác dụng bổ dưỡng, tăng sức: Đảng sâm có tác dụng bổ dưỡng toàn thân, giúp tăng hấp thu chất dinh dưỡng, tăng sức khỏe  chung của cơ thể.

+ Đối với hệ tiêu hóa: dịch của Đảng sâm làm tăng trương lực của hồi tràng chuột, bảo vệ rõ rệt đối với 4 loại mô hình gây loét bao tử ở súc vật (gây loét do kích thích, gây viêm, gây loét do Acid Acetic, loét do thắt môn vị).

+ Đối với máu và hệ thống tạo máu: Nước, cồn và nước sắc Đảng sâm đều có tác dụng làm tăng số lượng hồng cầu, huyết sắc tố, làm giảm số lượng bạch cầu

+ Đối với đường huyết: Dịch chiết Đảng sâm gây tăng đường huyết, ảnh hưởng này được cho là do thành phần đường trong đảng sâm gây nên.

+ Đối với tim mạch, huyết áp: Dịch chiết đảng sâm có tác dụng hạ huyết áp trên động vật thí nghiệm. Tác giả nghiên cứu cho rằng hiện tượng hạ huyết áp không liên quan đến thành phần đường trong Đảng sâm mà là do giãn mạch ngoại vi. Đảng sâm còn có tác dụng ức chế hiện tượng cao huyết áp do Adrenalin gây ra.

+ Tăng khả năng miễn dịch của cơ thể: Đảng sâm làm tăng chức năng của tủy xương sản sinh ra các tế bào có hoạt tính miễn dịch và các dưỡng bào, do đó đã điều hòa và làm giảm hội chứng siu giảm miễn dịch ở động vật thí nghiệm.

+ Kháng viêm, hóa đàm, chỉ khái (giảm ho).

+ Kháng khuẩn: Trên thực nghiệm ‘In Vitro’ thấy Đảng sâm có tác dụng kháng khuẩn ở mức độ khác nhau đối với các loại vi khuẩn sau: Não mô cầu khuẩn, Trực khuẩn bạch hầu, Trực khuẩn và Phó trực khuẩn đại tràng, Tụ cầu khuẩn vàng, Trực khuẩn lao ở người.

+ Ngoài ra, Đảng sâm còn có tác dụng phát triển nội mạc tử cung: Kiểu Progesteron mức độ nhẹ (trên thỏ nhỏ), gây tăng trương lực cổ tử cung, tiết sữa ở súc vật mẹ cho con bú.

Tính vị, công năng

Rễ đảng sâm có vị ngọt, tính bình

Quy kinh: Tỳ, Phế

Tác dụng: Bổ trung, ích khí, sinh tân chỉ khát

Trị tỳ vị hư yếu, khí huyết đều suy, không có sức, ăn ít, khát, tiêu chảy lâu ngày, phế hư sinh ho.

Công dụng, liều dùng

Đảng sâm có thể dùng thay thế nhân sâm trong các bệnh thiếu máu, da vàng, bệnh bạch huyết, viêm thượng thận. Còn dùng làm thuốc bổ dạ dày, chữa ho, tiêu đờm, lợi tiểu tiện.  

Ngày dùng 6 – 12g, có thể tăng tới 30g, dùng dưới dạng thuốc sắc. Uống luôn 7-14 ngày.

Các bài thuốc có đảng sâm

  1.     Bổ trung ích khí thang: Bổ tỳ vị, thăng dương, ích khí.

Hoàng kỳ 20g, Chích thảo 4g, Thăng ma 4-6g, Đảng sâm 12-16g, Đương quy 12g, Sài hồ 6-10g, Bạch truật 12g, Trần bì 4-6g.

  1.     Sâm linh bạch truật tán: Ích khí kiện tỳ, thẩm thấp chỉ tả

Đảng sâm 12g, Bạch linh 12g, Bạch truật 12g, Chích cam thảo 12g, Hoài sơn 12g, Bạch biển đậu 10-12g, Liên nhục 10-12g, Ý dĩ 10-12g, Cát cánh 6-8g, Sa nhân 6-8g.

  1.     Bồi dưỡng cơ thể, chữa thận suy, đau lưng, mỏi gối, đái rắt

Đảng sâm 20g, tắc kè 6g, huyết giác 1g, trần bì 1g, tiểu hồi 0.5g. rượu 40 độ 250ml, đường đủ ngọt. Các vị thuốc cắt nhỏ, ngâm rượu trong 1 tháng, mỗi lần uống 300ml, ngày uống 1-2 lần.

  1.     Chữa cơ thể suy nhược mệt mỏi, ăn không ngon, đại tiện lỏng

Đảng sâm 20g, bạch truật sao, đương quy, ba kích, mối vị 12g. Sắc uống, hoặc tán bột làm viên với mật ong, uống mỗi ngày 12-10g.

  1.     Chữa bệnh ho không có sức, thở gấp, mệt mỏi vô lực

Đảng sâm 16g, hoàng kỳ 12g, cam thảo, nhục quế, mỗi vị 6g. sắc uống

  1.     Chữa chán ăn, kém ăn, khó tiêu

Đảng sâm 16g, bạch truật 12g, phục linh 8g, cam thảo 4g. Sắc uống

  1.     Chữa viêm loét dạ dày

Đảng sâm 16g, đất lòng bếp (hoàng thổ) 40g, a giao, phụ tử chế, bạch truật, địa hoàng, cam thảo, hoàng cầm, mỗi vị 12g. Sắc uống.

Thận trọng

Có thực tà, cấm dùng. Không dùng chung với vị Lê lô.

Nếu dùng Sâm lượng quá lớn (mỗi liều quá 63g Đảng sâm) gây cho bệnh nhân khó chịu vùng trước tim và nhịp tim không đều, ngưng thuốc thì hết (theo Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).

Kết luận

Đảng sâm một trong những vị thuốc quý có nhiều công dụng. Người ta còn gọi Đảng sâm là nhân sâm của người nghèo vì có mọi công dụng của nhân sâm mà lại rẻ tiền. Việc mua đảng sâm dùng là không khó, tuy nhiên, để việc sử dụng đảng sâm được hiệu quả và an toàn, người bệnh nên dùng theo các đơn của các thầy thuốc, tránh tự ý chế biến sử dụng bởi cách chế biến có thể sai, làm giảm tác dụng của vị thuốc.

ĐƯƠNG QUY

Đương quy (Radix Angelicae sinensis) là rễ phơi hoặc sấy khô của cây đương quy, là vị thuốc có mặt trong 80 bài thuốc y học cổ truyền Trung Hoa cách đây hàng ngàn năm. Trong tên gọi của đương quy, quy có nghĩa là về. Đặt tên như vậy là vì vị thuốc này có tác dụng điều hòa khí huyết, làm cho huyết trở về đúng vị trí. Đương quy còn được gọi là nhân sâm dành cho phụ nữ vì được sử dụng trong các bài thuốc bắc điều trị  các bệnh của phụ nữ.

Theo đông y, đương quy vị ngọt, cay tính ôn; vào 3 kinh: tâm, can, và tỳ; có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông, là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiều đơn thuốc bổ và trị bệnh khác.

ĐỖ TRỌNG

Tên gọi khác: Tự trọng, Ngọc tỳ bi
Tên khoa học: Eucommia ulmoides Oliv.
Họ thực vật:  Đỗ trọng Eucommiaceae

Là vị thuốc từ vỏ phơi khô của cây đỗ trọng,  được sử dụng hàng ngàn năm nay với công năng kỳ diệu, mang đầy tính huyền thoại. Các thầy thuốc dùng đỗ trọng làm vị thuốc chủ đạo trong các bài thuốc điều trị phong thấp, tê ngứa, đau lưng dưới, đau đầu gối, ngăn ngừa sảy thai, hạ huyết áp. Khoa học hiện đại đã kiểm chứng một số tác dụng của đỗ trọng theo đông y và cho kết quả khả quan. Không những vậy, đỗ trọng còn có ý nghĩa trong tìm kiếm phương pháp điều trị mới cho các bệnh nan y. Ngày nay, ngoài các phương pháp chế biến truyền thống như sao đen, dùng sống, ngâm rượu, trên thị trường đã có thêm các chế phẩm bào chế hiện đại của đỗ trọng nhằm tiện lợi cho người dùng.

ĐỘC HOẠT

Độc hoạt là rễ phơi khô của cây độc hoạt, chứa nhiều chất coumarin nên có mùi thơm dễ chịu. Theo Đông y, độc hoạt vị cay đắng, tính ôn; vào kinh can, thận và bàng quang, có tác dụng tán phong hàn thấp tà, nhất là về mặt trừ phong giảm đau, dùng chữa trị phong thấp, đau khớp, thiên về phong tà, chân tay co quắp, đau lưng, nhức gối mà đau di chuyển chỗ này sang chỗ khác. Hễ cơ nhục, các khớp tê bởi hàn thấp tà, không dùng loại khí vị mănh liệt này, thì không thể nhập thẳng đến giữa kinh mạch khớp xương, vì vậy Độc hoạt là thuốc trị các chứng nặng về phong tê mềm yếu ắt không thể thiếu được.

Ngoài ra Độc hoạt còn dùng cả cho các chứng bệnh do phong, đau đầu, hoa mắt và đau sưng răng.

ĐƯƠNG QUY

Đương quy (Radix Angelicae sinensis) là rễ phơi hoặc sấy khô của cây đương quy, là vị thuốc có mặt trong 80 bài thuốc y học cổ truyền Trung Hoa cách đây hàng ngàn năm. Trong tên gọi của đương quy, quy có nghĩa là về. Đặt tên như vậy là vì vị thuốc này có tác dụng điều hòa khí huyết, làm cho huyết trở về đúng vị trí. Đương quy còn được gọi là nhân sâm dành cho phụ nữ vì được sử dụng trong các bài thuốc bắc điều trị  các bệnh của phụ nữ. Theo đông y, đương quy vị ngọt, cay tính ôn; vào 3 kinh: tâm, can, và tỳ; có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông, là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiều đơn thuốc bổ và trị bệnh khác.

ĐỖ TRỌNG

Tên gọi khác: Tự trọng, Ngọc tỳ bi
Tên khoa học: Eucommia ulmoides Oliv.
Họ thực vật:  Đỗ trọng Eucommiaceae

Là vị thuốc từ vỏ phơi khô của cây đỗ trọng,  được sử dụng hàng ngàn năm nay với công năng kỳ diệu, mang đầy tính huyền thoại. Các thầy thuốc dùng đỗ trọng làm vị thuốc chủ đạo trong các bài thuốc điều trị phong thấp, tê ngứa, đau lưng dưới, đau đầu gối, ngăn ngừa sảy thai, hạ huyết áp. Khoa học hiện đại đã kiểm chứng một số tác dụng của đỗ trọng theo đông y và cho kết quả khả quan. Không những vậy, đỗ trọng còn có ý nghĩa trong tìm kiếm phương pháp điều trị mới cho các bệnh nan y. Ngày nay, ngoài các phương pháp chế biến truyền thống như sao đen, dùng sống, ngâm rượu, trên thị trường đã có thêm các chế phẩm bào chế hiện đại của đỗ trọng nhằm tiện lợi cho người dùng.

ĐỌC HOẠT

Độc hoạt là rễ phơi khô của cây độc hoạt, chứa nhiều chất coumarin nên có mùi thơm dễ chịu. Theo Đông y, độc hoạt vị cay đắng, tính ôn; vào kinh can, thận và bàng quang, có tác dụng tán phong hàn thấp tà, nhất là về mặt trừ phong giảm đau, dùng chữa trị phong thấp, đau khớp, thiên về phong tà, chân tay co quắp, đau lưng, nhức gối mà đau di chuyển chỗ này sang chỗ khác. Hễ cơ nhục, các khớp tê bởi hàn thấp tà, không dùng loại khí vị mănh liệt này, thì không thể nhập thẳng đến giữa kinh mạch khớp xương, vì vậy Độc hoạt là thuốc trị các chứng nặng về phong tê mềm yếu ắt không thể thiếu được.

Ngoài ra Độc hoạt còn dùng cả cho các chứng bệnh do phong, đau đầu, hoa mắt và đau sưng răng.

TRUNG TÂM TƯ VẤN SỨC KHỎE

  • G.Đ TRUNG TÂM

  • B.S. PHẠM HƯNG CỦNG

  • Nguyên Vụ Trưởng VỤ YHCT - Bộ Y Tế

Bác Sĩ Chuyên Khoa 2/ Thầy thuốc ưu tú Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT Quốc Tế Hồng Kông

> LIÊN HỆ TRUNG TÂM BÁC SĨ TƯ VẤN

1800 - 6036

Cửa sổ tin nhắn

VNBACSI.net

Tham Gia Cộng Đồng:

+ Tư Vấn Bệnh Xương Khớp

+ Tư Vấn Bệnh Tiêu Hóa

+Tư Vấn Bệnh Tiểu Đường

> NHẬN TƯ VẤN TỪ CHUYÊN GIA







TRUNG TÂM B.S. TƯ VẤN 

Th.S. B.S. CKII - PHẠM HƯNG CỦNG

  • Nguyên Vụ Trưởng Vụ YHCT - Bộ Y Tế
  • Thầy thuốc ưu tú - Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT quốc tế Hồng Kông
  • Phó Viện trưởng Viện châm cứu Việt Nam
  • Phó Viện trưởng Viện Khoa học ứng dụng Y học dân tộc và Dưỡng sinh Việt Nam
  • Được Bộ y tế trao tặng giải thưởng Hải Thượng Nãn Ông Lê Hữu Trác.

Trưởng Khoa Đông Y - Bệnh Viện Quân Đội 108

  • Đại Tá - Thạc sĩ Bác sĩ: HOÀNG KHÁNH TOÀN
  • Trưởng Khoa Đông Y Bệnh Viện Quân Đội 108.
  • Ông có nhiều nghiên cứu Đông y tốt cho sức khỏe. Bác sĩ được trao tặng danh hiệu Thầy Thuốc Ưu Tú

> LIÊN HỆ TRUNG TÂM BÁC SĨ TƯ VẤN

1800 - 6036

Cửa sổ tin nhắn

VNBACSI.net

> NHẬN TƯ VẤN TỪ CHUYÊN GIA







— QUẢNG CÁO —
.

————————————

— QUẢNG CÁO —

BÁC SĨ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ BỆNH:

BÁC SĨ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ BỆNH:

Leave A Comment

error: