CHỮA TIỂU ĐƯỜNG BẰNG THUỐC ĐÔNG Y

Đái tháo đường được coi là đại dịch của thế kỷ 21, xếp vào nhóm bệnh không lây hàng đầu Thế giới về tỷ lệ người mắc, đã được WHO cảnh báo là vấn đề xã hội toàn cầu. Hiện nay, trên Thế giới có 250 triệu người mắc bệnh, con số này ở Việt Nam là 5 triệu người.

Việc kiểm soát đường huyết bằng thuốc Tây y chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, đặc biệt là chưa phòng ngừa được hết các biến chứng do Đái tháo đường gây ra. Do đó kết hợp thuốc đông y trong điều trị tiểu đường thành xu hướng tất yếu khi nó đem lại nhiều kết quả khả quan hơn. Vậy các bài thuốc đông y điều trị bệnh đái tháo đường có hiệu quả như thế nào? Trước khi trả lời được câu hỏi này, chúng ta cần phải hiểu rõ quan niệm của Y học cổ truyền về bệnh Đái tháo đường.

đông y chữa trị tiểu đường

Ảnh 1: Tình hình mắc bệnh Đái tháo đường hiện nay

Định nghĩa bệnh Đái tháo đường theo Y học cổ truyền

Bệnh Đái tháo đường với các biểu hiện triệu chứng lâm sàng điển hình là ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, gầy nhiều. Bệnh được miêu tả trong phạm vi chứng Tiêu khát của y học cổ truyền: “khát mà uống nhiều nước, đi tiểu nhiều thuộc chứng bệnh tiêu khát”. Chứng này được ghi lại lần đầu tiên trong y văn cổ “Nội kinh”, ngày nay bệnh khá phổ biến và được hầu hết các tài liệu ghi chép lại. Thực tế cho thấy Đông y điều trị bệnh tiểu đường cho hiệu quả cao, bệnh nhân không bị kháng thuốc hay gặp phải các dụng không mong muốn.

Ảnh 2: Các triệu chứng thường gặp của bệnh ĐTĐ

Nguyên nhân và cơ chế bệnh tiểu đường theo YHCT là gì?

Theo Đông y, nguyên nhân chủ yếu gây chứng bệnh tiêu khát là do bẩm tố cơ thể là âm hư, kết hợp với thói quen thích ăn đồ béo ngọt làm phần âm trong cơ thể ngày càng hao tổn đồng thời ảnh hưởng đến chức năng của tạng tỳ, lâu ngày tỳ vị tích nhiệt dẫn đến vị hỏa và nhiễu loạn lên trên tạo thành hỏa nhiệt, uất lại làm tổn thương các phần âm. Hỏa làm phế âm hư gây khát nhiều, làm vị âm hư gây đói nhiều, người gầy. Hoặc trường hợp hỏa nhiệt làm ảnh hưởng đến thận âm gây tiểu nhiều.

Phân loại bệnh Đái tháo đường theo y học cổ truyền như thế nào?

Không giống như y học hiện đại chia đái tháo đường thành 2 thể là Typ 1 và Typ 2 liên quan đến sự thiếu hụt và sản xuất Insulin.

Bản chất chứng tiêu khát theo YHCT là miệng khát dẫn đến uống nhiều, ăn nhiều rồi, hỏa nhiệt thiêu đốt tân dịch, chất dinh dưỡng không hấp thụ được nên gầy nhiều. Trong đông y, nước, tân dịch trong cơ thể được chuyển hóa qua tam tiêu – cụ thể là: Thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu. Dựa trên triệu chứng lâm sàng chính của bệnh, có mối liên quan đến tam tiêu. Dựa vào đó, Y học cổ truyền chia bệnh này thành 3 thể chính tương ứng là thể thượng tiêu, thể trung tiêu và hạ tiêu.

  • Thể thượng tiêu: chủ yếu do tổn thương Phế âm dẫn đến phế nhiệt.

Những bệnh nhân ở thể này sẽ có triệu chứng khát nước nổi trội hơn so với các triệu chứng khác. Bệnh nhân muốn uống nước nhiều,hay khát, miệng khô, lưỡi khô, đi tiểu nhiều.

  • Thể trung tiêu: Còn gọi là vị nhiệt.

Bệnh nhân sẽ có triệu chứng đói nhiều, ăn nhiều mà vẫn đói, người gầy nhiều, đại tiện thường táo,…

  • Thể hạ tiêu: Chủ yếu biểu hiện thận âm hư

Người bệnh đi tiểu nhiều lần, mỗi lần tiểu số lượng nhiều, nước tiểu đục, nhiều bọt hoặc có kiến bâu. Miệng khô, lưỡi khô, uống nước nhiều. Lòng bàn tay, bàn chân nóng, có thể có cảm giác nóng ngực.

Điều trị Đái tháo đường bằng Y học cổ truyền

Phương pháp chữa chứng Tiêu khát theo YHCT chủ yếu lấy dưỡng âm thanh nhiệt, sinh tân chỉ khát làm cơ sở. Vì thận được coi là nguồn gốc của âm dịch và là nơi tàng trữ của ngũ cốc, tinh hậu thiên (những chất dinh dưỡng sau khi hấp thụ ở tạng Tỳ sẽ được tích trữ ở thận). Cho nên cần lấy bổ thận âm làm gốc trong điều trị tiểu đường bằng Y học cổ truyền.

Bài thuốc trị bệnh tiểu đường được áp dụng nhiều nhất từ trước đến nay là Bài Lục vị gia giảm với thành phần chính là: Thục địa 20g, hoài sơn 20g, sơn thù  10g, bạch linh 10g, trạch tả 10g, đan bì 10g.

Ngoài ra, tùy từng thể, tùy từng bệnh nhân khác nhau mà gia thêm các vị

  • Bệnh nhân khát nước nhiều: Thường dùng thêm Thiên hoa phấn 20g, sinh địa 16g, mạch môn 12g, ngũ vị tử 8g…
  • Nếu bệnh nhân đói nhiều, người gầy, nên dùng thêm các vị: huyền sâm, sinh địa, hoàng liên, nếu táo bón thêm đại hoàng
  • Nếu tiểu nhiều kèm mắt mờ, ù tai gia thêm các vị: Kỷ tử, cúc hoa.

Tiểu nhiều có lòng bàn tay, bàn chân nóng kèm khát nhiều: gia thêm các vị: sa sâm, mạch môn, ngưu bàng tử.

Ảnh3 : Thuốc đông y trong điều trị bệnh đái tháo đường

Theo y văn cổ Các thể bệnh của chứng Tiêu khát đều có thể kết hợp thêm châm cứu, xoa bóp bấm huyệt hỗ trợ điều trị bệnh. Tuy nhiên, phương pháp này cho hiệu quả không cao. Ngày nay, các nhà khoa học khuyến cáo không nên châm cứu cho bệnh nhân có đường huyết không ổn định để tránh biến chứng nhiễm trùng.

Chính vì vậy việc dùng các bài thuốc và vị thuốc nam để điều trị bệnh tiểu đường vẫn là phương pháp kết hợp chủ yếu, giúp người bệnh kiểm soát được đường huyết tốt hơn, đồng thời phòng ngừa các biến chứng do bệnh tiểu đường gây ra.

Nội Dung Bài Viết

  1. Định nghĩa bệnh Đái tháo đường theo Y học cổ truyền
  2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh tiểu đường theo YHCT là gì?
  3. Phân loại bệnh Đái tháo đường theo y học cổ truyền như thế nào?
  4. Điều trị Đái tháo đường bằng Y học cổ truyền

Bài Viết Liên Quan

  1. Định nghĩa bệnh Đái tháo đường theo Y học cổ truyền
  2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh tiểu đường theo YHCT là gì?
  3. Phân loại bệnh Đái tháo đường theo y học cổ truyền như thế nào?
  4. Điều trị Đái tháo đường bằng Y học cổ truyền

Đái tháo đường được coi là đại dịch của thế kỷ 21, xếp vào nhóm bệnh không lây hàng đầu Thế giới về tỷ lệ người mắc, đã được WHO cảnh báo là vấn đề xã hội toàn cầu. Hiện nay, trên Thế giới có 250 triệu người mắc bệnh, con số này ở Việt Nam là 5 triệu người.

Việc kiểm soát đường huyết bằng thuốc Tây y chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, đặc biệt là chưa phòng ngừa được hết các biến chứng do Đái tháo đường gây ra. Do đó kết hợp thuốc đông y trong điều trị tiểu đường thành xu hướng tất yếu khi nó đem lại nhiều kết quả khả quan hơn. Vậy các bài thuốc đông y điều trị bệnh đái tháo đường có hiệu quả như thế nào? Trước khi trả lời được câu hỏi này, chúng ta cần phải hiểu rõ quan niệm của Y học cổ truyền về bệnh Đái tháo đường.

đông y chữa trị tiểu đường

Ảnh 1: Tình hình mắc bệnh Đái tháo đường hiện nay

Định nghĩa bệnh Đái tháo đường theo Y học cổ truyền

Bệnh Đái tháo đường với các biểu hiện triệu chứng lâm sàng điển hình là ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, gầy nhiều. Bệnh được miêu tả trong phạm vi chứng Tiêu khát của y học cổ truyền: “khát mà uống nhiều nước, đi tiểu nhiều thuộc chứng bệnh tiêu khát”. Chứng này được ghi lại lần đầu tiên trong y văn cổ “Nội kinh”, ngày nay bệnh khá phổ biến và được hầu hết các tài liệu ghi chép lại. Thực tế cho thấy Đông y điều trị bệnh tiểu đường cho hiệu quả cao, bệnh nhân không bị kháng thuốc hay gặp phải các dụng không mong muốn.

Ảnh 2: Các triệu chứng thường gặp của bệnh ĐTĐ

Nguyên nhân và cơ chế bệnh tiểu đường theo YHCT là gì?

Theo Đông y, nguyên nhân chủ yếu gây chứng bệnh tiêu khát là do bẩm tố cơ thể là âm hư, kết hợp với thói quen thích ăn đồ béo ngọt làm phần âm trong cơ thể ngày càng hao tổn đồng thời ảnh hưởng đến chức năng của tạng tỳ, lâu ngày tỳ vị tích nhiệt dẫn đến vị hỏa và nhiễu loạn lên trên tạo thành hỏa nhiệt, uất lại làm tổn thương các phần âm. Hỏa làm phế âm hư gây khát nhiều, làm vị âm hư gây đói nhiều, người gầy. Hoặc trường hợp hỏa nhiệt làm ảnh hưởng đến thận âm gây tiểu nhiều.

Phân loại bệnh Đái tháo đường theo y học cổ truyền như thế nào?

Không giống như y học hiện đại chia đái tháo đường thành 2 thể là Typ 1 và Typ 2 liên quan đến sự thiếu hụt và sản xuất Insulin.

Bản chất chứng tiêu khát theo YHCT là miệng khát dẫn đến uống nhiều, ăn nhiều rồi, hỏa nhiệt thiêu đốt tân dịch, chất dinh dưỡng không hấp thụ được nên gầy nhiều. Trong đông y, nước, tân dịch trong cơ thể được chuyển hóa qua tam tiêu – cụ thể là: Thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu. Dựa trên triệu chứng lâm sàng chính của bệnh, có mối liên quan đến tam tiêu. Dựa vào đó, Y học cổ truyền chia bệnh này thành 3 thể chính tương ứng là thể thượng tiêu, thể trung tiêu và hạ tiêu.

  • Thể thượng tiêu: chủ yếu do tổn thương Phế âm dẫn đến phế nhiệt.

Những bệnh nhân ở thể này sẽ có triệu chứng khát nước nổi trội hơn so với các triệu chứng khác. Bệnh nhân muốn uống nước nhiều,hay khát, miệng khô, lưỡi khô, đi tiểu nhiều.

  • Thể trung tiêu: Còn gọi là vị nhiệt.

Bệnh nhân sẽ có triệu chứng đói nhiều, ăn nhiều mà vẫn đói, người gầy nhiều, đại tiện thường táo,…

  • Thể hạ tiêu: Chủ yếu biểu hiện thận âm hư

Người bệnh đi tiểu nhiều lần, mỗi lần tiểu số lượng nhiều, nước tiểu đục, nhiều bọt hoặc có kiến bâu. Miệng khô, lưỡi khô, uống nước nhiều. Lòng bàn tay, bàn chân nóng, có thể có cảm giác nóng ngực.

Điều trị Đái tháo đường bằng Y học cổ truyền

Phương pháp chữa chứng Tiêu khát theo YHCT chủ yếu lấy dưỡng âm thanh nhiệt, sinh tân chỉ khát làm cơ sở. Vì thận được coi là nguồn gốc của âm dịch và là nơi tàng trữ của ngũ cốc, tinh hậu thiên (những chất dinh dưỡng sau khi hấp thụ ở tạng Tỳ sẽ được tích trữ ở thận). Cho nên cần lấy bổ thận âm làm gốc trong điều trị tiểu đường bằng Y học cổ truyền.

Bài thuốc trị bệnh tiểu đường được áp dụng nhiều nhất từ trước đến nay là Bài Lục vị gia giảm với thành phần chính là: Thục địa 20g, hoài sơn 20g, sơn thù  10g, bạch linh 10g, trạch tả 10g, đan bì 10g.

Ngoài ra, tùy từng thể, tùy từng bệnh nhân khác nhau mà gia thêm các vị

  • Bệnh nhân khát nước nhiều: Thường dùng thêm Thiên hoa phấn 20g, sinh địa 16g, mạch môn 12g, ngũ vị tử 8g…
  • Nếu bệnh nhân đói nhiều, người gầy, nên dùng thêm các vị: huyền sâm, sinh địa, hoàng liên, nếu táo bón thêm đại hoàng
  • Nếu tiểu nhiều kèm mắt mờ, ù tai gia thêm các vị: Kỷ tử, cúc hoa.

Tiểu nhiều có lòng bàn tay, bàn chân nóng kèm khát nhiều: gia thêm các vị: sa sâm, mạch môn, ngưu bàng tử.

Ảnh3 : Thuốc đông y trong điều trị bệnh đái tháo đường

Theo y văn cổ Các thể bệnh của chứng Tiêu khát đều có thể kết hợp thêm châm cứu, xoa bóp bấm huyệt hỗ trợ điều trị bệnh. Tuy nhiên, phương pháp này cho hiệu quả không cao. Ngày nay, các nhà khoa học khuyến cáo không nên châm cứu cho bệnh nhân có đường huyết không ổn định để tránh biến chứng nhiễm trùng.

Chính vì vậy việc dùng các bài thuốc và vị thuốc nam để điều trị bệnh tiểu đường vẫn là phương pháp kết hợp chủ yếu, giúp người bệnh kiểm soát được đường huyết tốt hơn, đồng thời phòng ngừa các biến chứng do bệnh tiểu đường gây ra.

ĐIỀU TRỊ BỆNH BẰNG THẢO DƯỢC AN TOÀN & HIỆU QUẢ

MÃ TIỀN CHẾ

Mã tiền là dược liệu quý được sử dụng trong các bài thuốc Y học cổ truyền hàng trăm năm nay. Mã tiền chế thường được dùng như vị thuốc chủ trị có tác dụng thúc đẩy sự vận hành của huyết dịch, giúp trừ khử ứ trệ, thông kinh hoạt lạc, chống viêm, chống tê mỏi, giảm đau nhanh cơn đau xương khớp cũng như giúp điều trị các bệnh lý nhược cơ, bại liệt rất tốt. Mã tiền chưa qua chế biến chứa độc tố nên chỉ dùng ngâm rượu xoa bóp bên ngoài để điều trị đau nhức xương khớp. Trong khi đó, mã tiền qua chế biến, loại bỏ độc tính, dùng đường uống phát huy hiệu quả rõ rệt và tác dụng nhanh hơn. Có rất nhiều bài thuốc dân gian chữa phong thấp hiệu quả sử dụng vị thuốc Mã tiền chế làm thành phần chính.

👉 Tác Dụng Thần Kỳ Của Mã Tiền Chế

ĐƯƠNG QUY

Đương quy (Radix Angelicae sinensis) là rễ phơi hoặc sấy khô của cây đương quy, là vị thuốc có mặt trong 80 bài thuốc y học cổ truyền Trung Hoa cách đây hàng ngàn năm. Trong tên gọi của đương quy, quy có nghĩa là về. Đặt tên như vậy là vì vị thuốc này có tác dụng điều hòa khí huyết, làm cho huyết trở về đúng vị trí. Đương quy còn được gọi là nhân sâm dành cho phụ nữ vì được sử dụng trong các bài thuốc bắc điều trị  các bệnh của phụ nữ.

Theo đông y, đương quy vị ngọt, cay tính ôn; vào 3 kinh: tâm, can, và tỳ; có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông, là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiều đơn thuốc bổ và trị bệnh khác.

ĐỖ TRỌNG

Tên gọi khác: Tự trọng, Ngọc tỳ bi Tên khoa học: Eucommia ulmoides Oliv. Họ thực vật:  Đỗ trọng Eucommiaceae

Là vị thuốc từ vỏ phơi khô của cây đỗ trọng,  được sử dụng hàng ngàn năm nay với công năng kỳ diệu, mang đầy tính huyền thoại. Các thầy thuốc dùng đỗ trọng làm vị thuốc chủ đạo trong các bài thuốc điều trị phong thấp, tê ngứa, đau lưng dưới, đau đầu gối, ngăn ngừa sảy thai, hạ huyết áp. Khoa học hiện đại đã kiểm chứng một số tác dụng của đỗ trọng theo đông y và cho kết quả khả quan. Không những vậy, đỗ trọng còn có ý nghĩa trong tìm kiếm phương pháp điều trị mới cho các bệnh nan y. Ngày nay, ngoài các phương pháp chế biến truyền thống như sao đen, dùng sống, ngâm rượu, trên thị trường đã có thêm các chế phẩm bào chế hiện đại của đỗ trọng nhằm tiện lợi cho người dùng.

ĐỘC HOẠT

Độc hoạt là rễ phơi khô của cây độc hoạt, chứa nhiều chất coumarin nên có mùi thơm dễ chịu. Theo Đông y, độc hoạt vị cay đắng, tính ôn; vào kinh can, thận và bàng quang, có tác dụng tán phong hàn thấp tà, nhất là về mặt trừ phong giảm đau, dùng chữa trị phong thấp, đau khớp, thiên về phong tà, chân tay co quắp, đau lưng, nhức gối mà đau di chuyển chỗ này sang chỗ khác. Hễ cơ nhục, các khớp tê bởi hàn thấp tà, không dùng loại khí vị mănh liệt này, thì không thể nhập thẳng đến giữa kinh mạch khớp xương, vì vậy Độc hoạt là thuốc trị các chứng nặng về phong tê mềm yếu ắt không thể thiếu được.

Ngoài ra Độc hoạt còn dùng cả cho các chứng bệnh do phong, đau đầu, hoa mắt và đau sưng răng.

ĐIỀU TRỊ BỆNH BẰNG THẢO DƯỢC AN TOÀN & HIỆU QUẢ

Mã Tiền Chế

Mã tiền là dược liệu quý được sử dụng trong các bài thuốc Y học cổ truyền hàng trăm năm nay. Mã tiền chế thường được dùng như vị thuốc chủ trị có tác dụng thúc đẩy sự vận hành của huyết dịch, giúp trừ khử ứ trệ, thông kinh hoạt lạc, chống viêm, chống tê mỏi, giảm đau nhanh cơn đau xương khớp cũng như giúp điều trị các bệnh lý nhược cơ, bại liệt rất tốt. Mã tiền chưa qua chế biến chứa độc tố nên chỉ dùng ngâm rượu xoa bóp bên ngoài để điều trị đau nhức xương khớp. Trong khi đó, mã tiền qua chế biến, loại bỏ độc tính, dùng đường uống phát huy hiệu quả rõ rệt và tác dụng nhanh hơn. Có rất nhiều bài thuốc dân gian chữa phong thấp hiệu quả sử dụng vị thuốc Mã tiền chế làm thành phần chính.

👉 Tác Dụng Thần Kỳ Của Mã Tiền Chế

ĐƯƠNG QUY

Đương quy (Radix Angelicae sinensis) là rễ phơi hoặc sấy khô của cây đương quy, là vị thuốc có mặt trong 80 bài thuốc y học cổ truyền Trung Hoa cách đây hàng ngàn năm. Trong tên gọi của đương quy, quy có nghĩa là về. Đặt tên như vậy là vì vị thuốc này có tác dụng điều hòa khí huyết, làm cho huyết trở về đúng vị trí. Đương quy còn được gọi là nhân sâm dành cho phụ nữ vì được sử dụng trong các bài thuốc bắc điều trị  các bệnh của phụ nữ. Theo đông y, đương quy vị ngọt, cay tính ôn; vào 3 kinh: tâm, can, và tỳ; có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông, là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiều đơn thuốc bổ và trị bệnh khác.

ĐỖ TRỌNG

Tên gọi khác: Tự trọng, Ngọc tỳ bi Tên khoa học: Eucommia ulmoides Oliv. Họ thực vật:  Đỗ trọng Eucommiaceae

Là vị thuốc từ vỏ phơi khô của cây đỗ trọng,  được sử dụng hàng ngàn năm nay với công năng kỳ diệu, mang đầy tính huyền thoại. Các thầy thuốc dùng đỗ trọng làm vị thuốc chủ đạo trong các bài thuốc điều trị phong thấp, tê ngứa, đau lưng dưới, đau đầu gối, ngăn ngừa sảy thai, hạ huyết áp. Khoa học hiện đại đã kiểm chứng một số tác dụng của đỗ trọng theo đông y và cho kết quả khả quan. Không những vậy, đỗ trọng còn có ý nghĩa trong tìm kiếm phương pháp điều trị mới cho các bệnh nan y. Ngày nay, ngoài các phương pháp chế biến truyền thống như sao đen, dùng sống, ngâm rượu, trên thị trường đã có thêm các chế phẩm bào chế hiện đại của đỗ trọng nhằm tiện lợi cho người dùng.

ĐỌC HOẠT

Độc hoạt là rễ phơi khô của cây độc hoạt, chứa nhiều chất coumarin nên có mùi thơm dễ chịu. Theo Đông y, độc hoạt vị cay đắng, tính ôn; vào kinh can, thận và bàng quang, có tác dụng tán phong hàn thấp tà, nhất là về mặt trừ phong giảm đau, dùng chữa trị phong thấp, đau khớp, thiên về phong tà, chân tay co quắp, đau lưng, nhức gối mà đau di chuyển chỗ này sang chỗ khác. Hễ cơ nhục, các khớp tê bởi hàn thấp tà, không dùng loại khí vị mănh liệt này, thì không thể nhập thẳng đến giữa kinh mạch khớp xương, vì vậy Độc hoạt là thuốc trị các chứng nặng về phong tê mềm yếu ắt không thể thiếu được.

Ngoài ra Độc hoạt còn dùng cả cho các chứng bệnh do phong, đau đầu, hoa mắt và đau sưng răng.

TRUNG TÂM TƯ VẤN SỨC KHỎE

  • G.Đ TRUNG TÂM

  • B.S. PHẠM HƯNG CỦNG

  • Nguyên Vụ Trưởng VỤ YHCT - Bộ Y Tế

Bác Sĩ Chuyên Khoa 2/ Thầy thuốc ưu tú Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT Quốc Tế Hồng Kông

> LIÊN HỆ TRUNG TÂM BÁC SĨ TƯ VẤN

1800 - 6036

Cửa sổ tin nhắn

VNBACSI.net

Tham Gia Cộng Đồng:

+ Tư Vấn Bệnh Xương Khớp

+ Tư Vấn Bệnh Tiêu Hóa

+Tư Vấn Bệnh Tiểu Đường

> NHẬN TƯ VẤN TỪ CHUYÊN GIA







TRUNG TÂM B.S. TƯ VẤN 

Th.S. B.S. CKII - PHẠM HƯNG CỦNG

  • Nguyên Vụ Trưởng Vụ YHCT - Bộ Y Tế
  • Thầy thuốc ưu tú - Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT quốc tế Hồng Kông
  • Phó Viện trưởng Viện châm cứu Việt Nam
  • Phó Viện trưởng Viện Khoa học ứng dụng Y học dân tộc và Dưỡng sinh Việt Nam
  • Được Bộ y tế trao tặng giải thưởng Hải Thượng Nãn Ông Lê Hữu Trác.

Trưởng Khoa Đông Y - Bệnh Viện Quân Đội 108

  • Đại Tá - Thạc sĩ Bác sĩ: HOÀNG KHÁNH TOÀN
  • Trưởng Khoa Đông Y Bệnh Viện Quân Đội 108.
  • Ông có nhiều nghiên cứu Đông y tốt cho sức khỏe. Bác sĩ được trao tặng danh hiệu Thầy Thuốc Ưu Tú

> LIÊN HỆ TRUNG TÂM BÁC SĨ TƯ VẤN

1800 - 6036

Cửa sổ tin nhắn

VNBACSI.net







— QUẢNG CÁO —
.

————————————

— QUẢNG CÁO —

BÀI VIẾT HAY NÊN ĐỌC

BÁC SĨ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ BỆNH:

BÁC SĨ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ BỆNH:

Leave A Comment

error: