KẾ SỮA

– Cây Thuốc Chữa Bệnh Gan –

Cây kế sữa là một trong những loại loài thực vật có nghiên cứu cho kết quả tốt nhất trong điều trị các bệnh về gan. Dịch chết kế sữa đã được sử dụng như một phương thuốc cách đây 2000 năm.

Cây kế sữa có tên khoa học là Silybum marianum, trong đó, “Silybum” do nhà thực vật học người Hy Lạp cổ đại Dioscorides đặt cho các loài kế ăn được, và “marianum” có nguồn gốc từ câu chuyện thần thoại rằng những mạch trắng của lá kế sữa được tạo ra bởi những giọt sữa của Đức Mẹ Đồng Trinh. Trên đường rời Ai Cập, đi tìm nơi hạ sinh Chúa Jesus, Đức Mẹ chỉ tìm thấy một chỗ trú ẩn là một cái ụ được làm từ những chiếc lá đầy gai của cây kế sữa. Do đó, cây kế sữa còn có tên khác là kế thánh, kế đức mẹ, cúc gai hoặc atiso dại.

Mô tả cây

Cây kế sữa có thể cao từ 30 đến 200 cm, dáng cây hình nón. Đường kính lớn nhất vòng tròn trung bình của cây khoảng 160 cm. Thân cây có khía và ít nhiều có lông. Các tiêu bản lớn nhất có phần thân rỗng.

Lá cây thuôn dài hoặc có hình ngọn giáo, chia thùy hoặc kép với phần cạnh có gai. Lá không có lông, màu xanh sáng với mạch màu trắng sữa.

Hoa của cây kế sữa có thể dài và rộng từ 4 đến 12 cm, màu tím đỏ. Hoa nở vào khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 8 đối với các nước ở bán cầu Bắc, hoặc từ tháng 12 đến tháng 2 ở các nước ở bán cầu Nam (chuyển mùa từ hè sang thu).

Lá bắc của hoa không có lông, hình tam giác, có phần phụ của cạnh sống lá, bị nghiêng, và sống lá màu vàng cứng.

Quả bế dài 5-7 mm, rộng 2-3 mm, và dày 1,5 mm, có màu đen nâu bóng hoặc xám, có chùm lông màu trắng, được bao quanh bởi một vòng đỡ màu vàng. Quả tươi sau khi nghiền ra có mùi cacao, vị đắng.

Nơi trồng, thu hoạch

Cây kế sữa có thể có nguồn gốc ở gần bờ biển phía nam nước Anh, sau đó được du nhập rộng rãi bên ngoài, ví dụ như Bắc Mỹ, Iran, Úc và New Zealand. Nơi canh tác cho sản lượng nguyên liệu thô phục vụ cho ngành dược phẩm có quy mô lớn ở Áo, Đức, Hungary, Ba Lan, Trung Quốc và Argentina. Tại châu Âu, cây kế sữa được gieo trồng trong khoảng từ tháng 3 đến tháng 4. Thu hoạch sẽ diễn ra trong tháng 8, khoảng 2-3 tuần sau khi hoa nở.

Cây có xuất xứ từ vùng núi Địa Trung Hải, nơi chúng sống thành bụi trên nền đá. Cây kế sữa đôi khi còn được dùng để trang trí trong vườn, và đầu hoa khô có thể được sử dụng cho việc trang trí các bó hoa khô.

Bộ phận thường dùng

Tất cả các phần của cây kế sữa đều có thể ăn. Thân non của cây kế sữa là thức ăn truyền thống của người Arab ở Israel. Lá có thể dùng làm salad và không có tác dụng chữa bệnh. Các sản phẩm từ dịch chiết thô của phần quả  sau khi loại bỏ chùm lông màu tráng bạc. Trong khi đó mầm và hạt nảy mầm chứa hàm lượng lớn các chất chống oxy hóa, trong đó có silymarin.

Thành phần hóa học

Hạt của kế sữa có chứa 4-6% silymarin. Trong dịch chiết từ hat, hàm lượng silymarin từ 65 đến 80% silymarin và 20-35% là các acid béo bao gồm linoleic acid. Silymarin là phức hợp của các phân tử polyphonolic, bao gồm 7 loại flavonolignan (silybin A, silybin B, isosilybin A, isosilybin B, silychristin, isosilychristin, sily dianin) và 1 flavonoid (taxifolin). Silymarin được tìm thấy ở bất kỳ bộ phận nào của cây kế sữa, nhưng tập trung chủ yếu ở quả và hạt. Silybinin, là một phân đoạn bán tinh khiết, nhìn chung là hỗn hợp 2 diastereoisomers, silybin A và silybin B với tỉ lệ 1:1.

Công dụng bảo vệ gan của cây kế sữa

Cây kế sữa thường được quảng bá với tác dụng bảo vệ gan. Loài cây này được sử dụng như một liệu pháp hỗ trợ cho những người có gan bị tổn thương bởi rượu, hoặc gan nhiễm mỡ, xơ gan, thậm chí ung thư gan. Chúng cũng được sử dụng để bảo vệ gan chống lại các chất độc như amatoxin từ loài nấm tử thần Amanita phalloides, hoặc acetaminophen (paracetamol). Đối với bệnh nhân tiểu đường, kế sữa có thể làm giảm quá trình peroxi hóa lipid màng tế bào, kháng insulin, và giảm đáng kể sự sản xuất quá mức insulin nội sinh, và nhu cầu sử dụng insulin ngoại sinh. Ngoài ra, kế sữa còn có hiệu quả trong rối loạn ám ảnh cưỡng chế, trầm cảm; tăng sản xuất sữa; và các vấn đề đường mật.

Các giả thuyết về tác dụng của silymarin trên gan là do tác dụng chống viêm, điều hòa miễn dịch, tăng sinh tổng hợp protein, chống xơ gan, chống oxy hóa, các tác dụng này làm giảm tổn thương gan, giúp gan hồi phục chức năng.

Các nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện trong chức năng gan ở những bệnh nhân có các bệnh về gan khi dùng cây kế sữa để hỗ trợ, có thể giảm tình trạng viêm ở gan và tổn thương gan. Mặc dù để làm rõ về cơ chế tác dụng của cây kế sữa cần thực hiện thêm nhiều nghiên cứu, thảo dược này được cho là giảm những tổn thương cho gan gây ra bởi các gốc tự do sản xuất khi gan chuyển hóa các chất độc. Một nghiên cứu cũng đã tìm thấy rằng, cây kế sữa có giúp tăng thời gian sống ở bệnh nhân xơ gan do rượu. Tuy nhiên, các kết quả của các nghiên cứu là kết hợp, và không phải dịch chiết kế sữa đều có tác dụng có lợi trên bệnh gan. Vì vậy, các nghiên cứu để xác định liều, và thời gian điều trị rất cần được thiết kế và tiến hành thêm trên các bệnh lý về gan khác nhau. Và mặc dù dịch chiết kế sữa thường được sử dụng như liệu pháp hỗ trợ cho người bị các bệnh về gan, không có bằng chứng nào chỉ ra chúng có thể giúp bạn phòng tránh những tình trạng bệnh này, đặc biệt nếu bạn duy trì lối sống không có lợi cho sức khỏe.

Tác dụng bất lợi và độc tính.

Nhìn chung, cây kế sữa không có tác dụng phụ hoặc độc tính đáng kể với liều từ 240 – 900 mg mỗi ngày. Liều cao hơn 1500 mg mỗi ngày có thể có tác dụng nhuộn tràng, tăng lưu lượng và bài tiết mật. Hầu hết các báo cáo tác dụng bất lợi bao gồm tăng tiết mồ hôi, đầy hơi, đau quặn bụng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy và mệt mỏi. Kế sữa cũng gây phản ứng dị ứng. Thành phần của dịch chiết kế sữa có tác dụng làm giảm đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 2, do đó, cần thận trọng khi sử dụng thuốc trên bệnh nhân tiểu đường.

Kết luận

Tại Mỹ, Silymarn là thực phẩm chức năng từ thảo dược phổ biến cho các vấn đề về gan. Hiện nay, các chế phẩm từ kế sữa có ở dạn viên nang, bột hoặc dịch chiết. Tuy nhiên, những bí mật về tiềm năng của kế sữa vẫn còn được con người biết đến rất ít, mới có 1 số nghiên cứu lâm sàng vẫn đang được tiến hành. Các nhà khoa học vẫn đang thực hiện các nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng, nhằm giải mã về bí ẩn về loài cây này, hứa hẹn sẽ đem đến 1 phương pháp tiếp cận mới cho các bệnh về gan, đặc biệt là ung thư gan.  

Bài Viết Liên Quan

Cây Kế Sữa – Chữa Bệnh Gan

Cây kế sữa là một trong những loại loài thực vật có nghiên cứu cho kết quả tốt nhất trong điều trị các bệnh về gan. Dịch chết kế sữa đã được sử dụng như một phương thuốc cách đây 2000 năm.

Cây kế sữa có tên khoa học là Silybum marianum, trong đó, “Silybum” do nhà thực vật học người Hy Lạp cổ đại Dioscorides đặt cho các loài kế ăn được, và “marianum” có nguồn gốc từ câu chuyện thần thoại rằng những mạch trắng của lá kế sữa được tạo ra bởi những giọt sữa của Đức Mẹ Đồng Trinh. Trên đường rời Ai Cập, đi tìm nơi hạ sinh Chúa Jesus, Đức Mẹ chỉ tìm thấy một chỗ trú ẩn là một cái ụ được làm từ những chiếc lá đầy gai của cây kế sữa. Do đó, cây kế sữa còn có tên khác là kế thánh, kế đức mẹ, cúc gai hoặc atiso dại.

Mô tả cây

Cây kế sữa có thể cao từ 30 đến 200 cm, dáng cây hình nón. Đường kính lớn nhất vòng tròn trung bình của cây khoảng 160 cm. Thân cây có khía và ít nhiều có lông. Các tiêu bản lớn nhất có phần thân rỗng.

Lá cây thuôn dài hoặc có hình ngọn giáo, chia thùy hoặc kép với phần cạnh có gai. Lá không có lông, màu xanh sáng với mạch màu trắng sữa.

Hoa của cây kế sữa có thể dài và rộng từ 4 đến 12 cm, màu tím đỏ. Hoa nở vào khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 8 đối với các nước ở bán cầu Bắc, hoặc từ tháng 12 đến tháng 2 ở các nước ở bán cầu Nam (chuyển mùa từ hè sang thu).

Lá bắc của hoa không có lông, hình tam giác, có phần phụ của cạnh sống lá, bị nghiêng, và sống lá màu vàng cứng.

Quả bế dài 5-7 mm, rộng 2-3 mm, và dày 1,5 mm, có màu đen nâu bóng hoặc xám, có chùm lông màu trắng, được bao quanh bởi một vòng đỡ màu vàng. Quả tươi sau khi nghiền ra có mùi cacao, vị đắng.

Nơi trồng, thu hoạch

Cây kế sữa có thể có nguồn gốc ở gần bờ biển phía nam nước Anh, sau đó được du nhập rộng rãi bên ngoài, ví dụ như Bắc Mỹ, Iran, Úc và New Zealand. Nơi canh tác cho sản lượng nguyên liệu thô phục vụ cho ngành dược phẩm có quy mô lớn ở Áo, Đức, Hungary, Ba Lan, Trung Quốc và Argentina. Tại châu Âu, cây kế sữa được gieo trồng trong khoảng từ tháng 3 đến tháng 4. Thu hoạch sẽ diễn ra trong tháng 8, khoảng 2-3 tuần sau khi hoa nở.

Cây có xuất xứ từ vùng núi Địa Trung Hải, nơi chúng sống thành bụi trên nền đá. Cây kế sữa đôi khi còn được dùng để trang trí trong vườn, và đầu hoa khô có thể được sử dụng cho việc trang trí các bó hoa khô.

Bộ phận thường dùng

Tất cả các phần của cây kế sữa đều có thể ăn. Thân non của cây kế sữa là thức ăn truyền thống của người Arab ở Israel. Lá có thể dùng làm salad và không có tác dụng chữa bệnh. Các sản phẩm từ dịch chiết thô của phần quả  sau khi loại bỏ chùm lông màu tráng bạc. Trong khi đó mầm và hạt nảy mầm chứa hàm lượng lớn các chất chống oxy hóa, trong đó có silymarin.

Thành phần hóa học

Hạt của kế sữa có chứa 4-6% silymarin. Trong dịch chiết từ hat, hàm lượng silymarin từ 65 đến 80% silymarin và 20-35% là các acid béo bao gồm linoleic acid. Silymarin là phức hợp của các phân tử polyphonolic, bao gồm 7 loại flavonolignan (silybin A, silybin B, isosilybin A, isosilybin B, silychristin, isosilychristin, sily dianin) và 1 flavonoid (taxifolin). Silymarin được tìm thấy ở bất kỳ bộ phận nào của cây kế sữa, nhưng tập trung chủ yếu ở quả và hạt. Silybinin, là một phân đoạn bán tinh khiết, nhìn chung là hỗn hợp 2 diastereoisomers, silybin A và silybin B với tỉ lệ 1:1.

Công dụng bảo vệ gan của cây kế sữa

Cây kế sữa thường được quảng bá với tác dụng bảo vệ gan. Loài cây này được sử dụng như một liệu pháp hỗ trợ cho những người có gan bị tổn thương bởi rượu, hoặc gan nhiễm mỡ, xơ gan, thậm chí ung thư gan. Chúng cũng được sử dụng để bảo vệ gan chống lại các chất độc như amatoxin từ loài nấm tử thần Amanita phalloides, hoặc acetaminophen (paracetamol). Đối với bệnh nhân tiểu đường, kế sữa có thể làm giảm quá trình peroxi hóa lipid màng tế bào, kháng insulin, và giảm đáng kể sự sản xuất quá mức insulin nội sinh, và nhu cầu sử dụng insulin ngoại sinh. Ngoài ra, kế sữa còn có hiệu quả trong rối loạn ám ảnh cưỡng chế, trầm cảm; tăng sản xuất sữa; và các vấn đề đường mật.

Các giả thuyết về tác dụng của silymarin trên gan là do tác dụng chống viêm, điều hòa miễn dịch, tăng sinh tổng hợp protein, chống xơ gan, chống oxy hóa, các tác dụng này làm giảm tổn thương gan, giúp gan hồi phục chức năng.

Các nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện trong chức năng gan ở những bệnh nhân có các bệnh về gan khi dùng cây kế sữa để hỗ trợ, có thể giảm tình trạng viêm ở gan và tổn thương gan. Mặc dù để làm rõ về cơ chế tác dụng của cây kế sữa cần thực hiện thêm nhiều nghiên cứu, thảo dược này được cho là giảm những tổn thương cho gan gây ra bởi các gốc tự do sản xuất khi gan chuyển hóa các chất độc. Một nghiên cứu cũng đã tìm thấy rằng, cây kế sữa có giúp tăng thời gian sống ở bệnh nhân xơ gan do rượu. Tuy nhiên, các kết quả của các nghiên cứu là kết hợp, và không phải dịch chiết kế sữa đều có tác dụng có lợi trên bệnh gan. Vì vậy, các nghiên cứu để xác định liều, và thời gian điều trị rất cần được thiết kế và tiến hành thêm trên các bệnh lý về gan khác nhau. Và mặc dù dịch chiết kế sữa thường được sử dụng như liệu pháp hỗ trợ cho người bị các bệnh về gan, không có bằng chứng nào chỉ ra chúng có thể giúp bạn phòng tránh những tình trạng bệnh này, đặc biệt nếu bạn duy trì lối sống không có lợi cho sức khỏe.

Tác dụng bất lợi và độc tính.

Nhìn chung, cây kế sữa không có tác dụng phụ hoặc độc tính đáng kể với liều từ 240 – 900 mg mỗi ngày. Liều cao hơn 1500 mg mỗi ngày có thể có tác dụng nhuộn tràng, tăng lưu lượng và bài tiết mật. Hầu hết các báo cáo tác dụng bất lợi bao gồm tăng tiết mồ hôi, đầy hơi, đau quặn bụng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy và mệt mỏi. Kế sữa cũng gây phản ứng dị ứng. Thành phần của dịch chiết kế sữa có tác dụng làm giảm đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 2, do đó, cần thận trọng khi sử dụng thuốc trên bệnh nhân tiểu đường.

Kết luận

Tại Mỹ, Silymarn là thực phẩm chức năng từ thảo dược phổ biến cho các vấn đề về gan. Hiện nay, các chế phẩm từ kế sữa có ở dạn viên nang, bột hoặc dịch chiết. Tuy nhiên, những bí mật về tiềm năng của kế sữa vẫn còn được con người biết đến rất ít, mới có 1 số nghiên cứu lâm sàng vẫn đang được tiến hành. Các nhà khoa học vẫn đang thực hiện các nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng, nhằm giải mã về bí ẩn về loài cây này, hứa hẹn sẽ đem đến 1 phương pháp tiếp cận mới cho các bệnh về gan, đặc biệt là ung thư gan.  

ĐIỀU TRỊ BỆNH BẰNG THẢO DƯỢC AN TOÀN & HIỆU QUẢ

MÃ TIỀN CHẾ

Mã tiền là dược liệu quý được sử dụng trong các bài thuốc Y học cổ truyền hàng trăm năm nay. Mã tiền chế thường được dùng như vị thuốc chủ trị có tác dụng thúc đẩy sự vận hành của huyết dịch, giúp trừ khử ứ trệ, thông kinh hoạt lạc, chống viêm, chống tê mỏi, giảm đau nhanh cơn đau xương khớp cũng như giúp điều trị các bệnh lý nhược cơ, bại liệt rất tốt. Mã tiền chưa qua chế biến chứa độc tố nên chỉ dùng ngâm rượu xoa bóp bên ngoài để điều trị đau nhức xương khớp. Trong khi đó, mã tiền qua chế biến, loại bỏ độc tính, dùng đường uống phát huy hiệu quả rõ rệt và tác dụng nhanh hơn. Có rất nhiều bài thuốc dân gian chữa phong thấp hiệu quả sử dụng vị thuốc Mã tiền chế làm thành phần chính.

👉 Tác Dụng Thần Kỳ Của Mã Tiền Chế

ĐƯƠNG QUY

Đương quy (Radix Angelicae sinensis) là rễ phơi hoặc sấy khô của cây đương quy, là vị thuốc có mặt trong 80 bài thuốc y học cổ truyền Trung Hoa cách đây hàng ngàn năm. Trong tên gọi của đương quy, quy có nghĩa là về. Đặt tên như vậy là vì vị thuốc này có tác dụng điều hòa khí huyết, làm cho huyết trở về đúng vị trí. Đương quy còn được gọi là nhân sâm dành cho phụ nữ vì được sử dụng trong các bài thuốc bắc điều trị  các bệnh của phụ nữ.

Theo đông y, đương quy vị ngọt, cay tính ôn; vào 3 kinh: tâm, can, và tỳ; có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông, là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiều đơn thuốc bổ và trị bệnh khác.

ĐỖ TRỌNG

Tên gọi khác: Tự trọng, Ngọc tỳ bi Tên khoa học: Eucommia ulmoides Oliv. Họ thực vật:  Đỗ trọng Eucommiaceae

Là vị thuốc từ vỏ phơi khô của cây đỗ trọng,  được sử dụng hàng ngàn năm nay với công năng kỳ diệu, mang đầy tính huyền thoại. Các thầy thuốc dùng đỗ trọng làm vị thuốc chủ đạo trong các bài thuốc điều trị phong thấp, tê ngứa, đau lưng dưới, đau đầu gối, ngăn ngừa sảy thai, hạ huyết áp. Khoa học hiện đại đã kiểm chứng một số tác dụng của đỗ trọng theo đông y và cho kết quả khả quan. Không những vậy, đỗ trọng còn có ý nghĩa trong tìm kiếm phương pháp điều trị mới cho các bệnh nan y. Ngày nay, ngoài các phương pháp chế biến truyền thống như sao đen, dùng sống, ngâm rượu, trên thị trường đã có thêm các chế phẩm bào chế hiện đại của đỗ trọng nhằm tiện lợi cho người dùng.

ĐỘC HOẠT

Độc hoạt là rễ phơi khô của cây độc hoạt, chứa nhiều chất coumarin nên có mùi thơm dễ chịu. Theo Đông y, độc hoạt vị cay đắng, tính ôn; vào kinh can, thận và bàng quang, có tác dụng tán phong hàn thấp tà, nhất là về mặt trừ phong giảm đau, dùng chữa trị phong thấp, đau khớp, thiên về phong tà, chân tay co quắp, đau lưng, nhức gối mà đau di chuyển chỗ này sang chỗ khác. Hễ cơ nhục, các khớp tê bởi hàn thấp tà, không dùng loại khí vị mănh liệt này, thì không thể nhập thẳng đến giữa kinh mạch khớp xương, vì vậy Độc hoạt là thuốc trị các chứng nặng về phong tê mềm yếu ắt không thể thiếu được.

Ngoài ra Độc hoạt còn dùng cả cho các chứng bệnh do phong, đau đầu, hoa mắt và đau sưng răng.

ĐIỀU TRỊ BỆNH BẰNG THẢO DƯỢC AN TOÀN & HIỆU QUẢ

Mã Tiền Chế

Mã tiền là dược liệu quý được sử dụng trong các bài thuốc Y học cổ truyền hàng trăm năm nay. Mã tiền chế thường được dùng như vị thuốc chủ trị có tác dụng thúc đẩy sự vận hành của huyết dịch, giúp trừ khử ứ trệ, thông kinh hoạt lạc, chống viêm, chống tê mỏi, giảm đau nhanh cơn đau xương khớp cũng như giúp điều trị các bệnh lý nhược cơ, bại liệt rất tốt. Mã tiền chưa qua chế biến chứa độc tố nên chỉ dùng ngâm rượu xoa bóp bên ngoài để điều trị đau nhức xương khớp. Trong khi đó, mã tiền qua chế biến, loại bỏ độc tính, dùng đường uống phát huy hiệu quả rõ rệt và tác dụng nhanh hơn. Có rất nhiều bài thuốc dân gian chữa phong thấp hiệu quả sử dụng vị thuốc Mã tiền chế làm thành phần chính.

👉 Tác Dụng Thần Kỳ Của Mã Tiền Chế

ĐƯƠNG QUY

Đương quy (Radix Angelicae sinensis) là rễ phơi hoặc sấy khô của cây đương quy, là vị thuốc có mặt trong 80 bài thuốc y học cổ truyền Trung Hoa cách đây hàng ngàn năm. Trong tên gọi của đương quy, quy có nghĩa là về. Đặt tên như vậy là vì vị thuốc này có tác dụng điều hòa khí huyết, làm cho huyết trở về đúng vị trí. Đương quy còn được gọi là nhân sâm dành cho phụ nữ vì được sử dụng trong các bài thuốc bắc điều trị  các bệnh của phụ nữ. Theo đông y, đương quy vị ngọt, cay tính ôn; vào 3 kinh: tâm, can, và tỳ; có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông, là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiều đơn thuốc bổ và trị bệnh khác.

ĐỖ TRỌNG

Tên gọi khác: Tự trọng, Ngọc tỳ bi Tên khoa học: Eucommia ulmoides Oliv. Họ thực vật:  Đỗ trọng Eucommiaceae

Là vị thuốc từ vỏ phơi khô của cây đỗ trọng,  được sử dụng hàng ngàn năm nay với công năng kỳ diệu, mang đầy tính huyền thoại. Các thầy thuốc dùng đỗ trọng làm vị thuốc chủ đạo trong các bài thuốc điều trị phong thấp, tê ngứa, đau lưng dưới, đau đầu gối, ngăn ngừa sảy thai, hạ huyết áp. Khoa học hiện đại đã kiểm chứng một số tác dụng của đỗ trọng theo đông y và cho kết quả khả quan. Không những vậy, đỗ trọng còn có ý nghĩa trong tìm kiếm phương pháp điều trị mới cho các bệnh nan y. Ngày nay, ngoài các phương pháp chế biến truyền thống như sao đen, dùng sống, ngâm rượu, trên thị trường đã có thêm các chế phẩm bào chế hiện đại của đỗ trọng nhằm tiện lợi cho người dùng.

ĐỌC HOẠT

Độc hoạt là rễ phơi khô của cây độc hoạt, chứa nhiều chất coumarin nên có mùi thơm dễ chịu. Theo Đông y, độc hoạt vị cay đắng, tính ôn; vào kinh can, thận và bàng quang, có tác dụng tán phong hàn thấp tà, nhất là về mặt trừ phong giảm đau, dùng chữa trị phong thấp, đau khớp, thiên về phong tà, chân tay co quắp, đau lưng, nhức gối mà đau di chuyển chỗ này sang chỗ khác. Hễ cơ nhục, các khớp tê bởi hàn thấp tà, không dùng loại khí vị mănh liệt này, thì không thể nhập thẳng đến giữa kinh mạch khớp xương, vì vậy Độc hoạt là thuốc trị các chứng nặng về phong tê mềm yếu ắt không thể thiếu được.

Ngoài ra Độc hoạt còn dùng cả cho các chứng bệnh do phong, đau đầu, hoa mắt và đau sưng răng.

TRUNG TÂM TƯ VẤN SỨC KHỎE

  • G.Đ TRUNG TÂM

  • B.S. PHẠM HƯNG CỦNG

  • Nguyên Vụ Trưởng VỤ YHCT - Bộ Y Tế

Bác Sĩ Chuyên Khoa 2/ Thầy thuốc ưu tú Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT Quốc Tế Hồng Kông

> LIÊN HỆ TRUNG TÂM BÁC SĨ TƯ VẤN

1800 - 6036

Cửa sổ tin nhắn

VNBACSI.net

Tham Gia Cộng Đồng:

+ Tư Vấn Bệnh Xương Khớp

+ Tư Vấn Bệnh Tiêu Hóa

+Tư Vấn Bệnh Tiểu Đường

> NHẬN TƯ VẤN TỪ CHUYÊN GIA







TRUNG TÂM B.S. TƯ VẤN 

Th.S. B.S. CKII - PHẠM HƯNG CỦNG

  • Nguyên Vụ Trưởng Vụ YHCT - Bộ Y Tế
  • Thầy thuốc ưu tú - Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT quốc tế Hồng Kông
  • Phó Viện trưởng Viện châm cứu Việt Nam
  • Phó Viện trưởng Viện Khoa học ứng dụng Y học dân tộc và Dưỡng sinh Việt Nam
  • Được Bộ y tế trao tặng giải thưởng Hải Thượng Nãn Ông Lê Hữu Trác.

Trưởng Khoa Đông Y - Bệnh Viện Quân Đội 108

  • Đại Tá - Thạc sĩ Bác sĩ: HOÀNG KHÁNH TOÀN
  • Trưởng Khoa Đông Y Bệnh Viện Quân Đội 108.
  • Ông có nhiều nghiên cứu Đông y tốt cho sức khỏe. Bác sĩ được trao tặng danh hiệu Thầy Thuốc Ưu Tú

> LIÊN HỆ TRUNG TÂM BÁC SĨ TƯ VẤN

1800 - 6036

Cửa sổ tin nhắn

VNBACSI.net

> NHẬN TƯ VẤN TỪ CHUYÊN GIA







— QUẢNG CÁO —
.

————————————

— QUẢNG CÁO —

BÁC SĨ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ BỆNH:

BÁC SĨ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ BỆNH:

2019-09-27T09:03:02+02:00April 25th, 2019|CÂY THUỐC QUÝ, HOME PAGE, THẢO DƯỢC|0 Comments

Leave A Comment

error: