Tổng Quan Phương Pháp Điều Trị

– Bệnh Viêm Gan B –

Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ mắc viêm gan B rất cao, cứ khoảng 8 người sẽ có 1 người mắc viêm gan B mạn, đây là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư gan. Khoảng 40% các ca tử vong do ung thư tại Việt Nam có liên quan đến viêm gan B. Điều trị viêm gan B hiện nay đã có phác đồ cụ thể và nhiều thuốc mới được nghiên cứu, tuy nhiên, tỷ lệ thất bại điều trị vẫn khá cao.

Vacxin viêm gan B đã được tìm ra từ năm 1982, đây là loại vacxin có hiệu quả đến 95% trong việc phòng ngừa nhiễm virus và phát triển thành bệnh mãn tính hoặc ung thư gan. Tuy nhiên mỗi năm vẫn có khoảng 600.000 ca tử vong trên thế giới do viêm gan B. Số người mắc viêm gan B mạn là khoảng 240 triệu người, con số này thậm chí cao gấp 7 lần so với số người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới. Điều đó cho thấy việc chữa trị viêm gan B hiện nay vẫn đang là một thách thức đối với nền y học hiện đại.

Có những loại viêm gan B nào?

Virus viêm gan B có thể lây từ người sang người qua các con đường: tiếp xúc với máu hoặc dịch cơ thể của bệnh nhân viêm gan B, quan hệ tình dục hoặc lây từ mẹ sang con. Virus viêm gan B có thể tồn tại trong cơ thể 7 ngày, nếu hệ miễn dịch của cơ thể yếu, hoặc không được bảo vệ bởi vacxin, virus sẽ phát triển và bắt đầu gây hại cho gan. Khi virus viêm gan B xâm nhập được vào cơ thể, bệnh nhân sẽ trải qua các giai đoạn:

– Phơi nhiễm với virus: là giai đoạn sớm sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh (khoảng 7 ngày sau khi phơi nhiễm qua đường máu hoặc từ mẹ sang con, khoảng 14 ngày sau phơi nhiễm qua đường tình dục).

– Viêm gan B cấp: là giai đoạn 6 tháng đầu tiên sau khi phơi nhiễm với virus viêm gan B. 90% người lớn khỏe mạnh sẽ tự loại bỏ được virus và hoàn toàn bình phục mà không gặp vấn đề gì. 10% sẽ tiến triển thành viêm gan mạn. Nhưng đối với trẻ nhỏ từ 1-5 tuổi, thì tỉ lệ tiến triển thành viêm gan mạn là 50%, đặc biệt với trẻ sơ sinh bị lây từ mẹ sang thì tỉ lệ này là 90%. Một số rất ít người mắc viêm gan B cấp (1%) bị tiến triển thành viêm gan tối cấp và có thể tử vong do suy gan.

– Viêm gan B mạn: sau 6 tháng phơi nhiễm với virus, nếu xét nghiệm vẫn dương tính với virus viêm gan B (HBsAg+) thì được chẩn đoán là nhiễm viêm gan B mạn, có thể kéo dài suốt đời. Hiện đã có các loại thuốc hiệu quả điều trị viêm gan B mạn, tuy nhiên bệnh nhân vẫn cần thăm khám theo dõi sàng lọc ung thư gan định kỳ. Bởi nếu không được điều trị và theo dõi đúng cách, khoảng ¼ người mắc viêm gan B mạn sẽ tử vong do xơ gan, ung thư gan hoặc suy gan.

Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm virus viêm gan B

Sau khi phơi nhiễm với virus, người bệnh cần được điều trị ngay lập tức với Globulin miễn dịch kháng viêm gan B (HBIG):

– Nếu chưa tiêm phòng vacxin viêm gan B trước đó: tiêm 1 liều HBIG trong 24 giờ đầu sau phơi nhiễm (200-400 IU), đồng thời tiêm vacxin phòng viêm gan B mũi đầu tiên tại một vị trí tiêm khác. Sau đó cần tiêm đủ 3 liều vacxin trong vòng 6 tháng (tại các thời điểm 0, 1 và 6 tháng). Nếu có tiền sử không đáp ứng với vacxin viêm gan B, cần tiêm thêm 1 liều HBIG vào tháng tiếp theo.

– Nếu đã đạt mức HBsBAg ≥ 10mIU/mL tức là đã đạt miễn dịch bảo vệ và không cần tiêm tiếp HBIG hoặc vacxin.

– Xét nghiệm lại anti-HBs, HBsAg và ALT sau 6 tháng để đánh giá lại.

Điều trị viêm gan B cấp

Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, điều trị viêm gan B cấp chủ yếu là hỗ trợ:

– Nghỉ ngơi tuyệt đối trong thời gian có triệu chứng lâm sàng.

– Hạn chế ăn chất béo, kiêng rượu bia, tránh sử dụng các thuốc chuyển hóa qua gan.

– Xem xét nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch nếu cần thiết.

– Có thể sử dụng các thuốc bổ trợ gan.

Riêng đối với thể viêm gan tối cấp: cần điều trị hồi sức nội khoa tích cực, có thể cân nhắc sử dụng thuốc kháng virus đường uống.

Điều trị viêm gan B mạn

Mục tiêu điều trị

Theo hướng dẫn thực hành lâm sàng của Hiệp hội nghiên cứu bệnh gan châu Âu (EASL) 2017 về xử trí nhiễm virus viêm gan B, mục tiêu của điều trị viêm gan B mạn là cải thiện sự sống còn và chất lượng cuộc sống bằng cách phòng ngừa sự tiến triển của bệnh, ngăn chặn phát triển thành ung thư biểu mô tế bào gan. Các mục tiêu bổ sung của liệu pháp kháng virus là phòng ngừa lây truyền từ mẹ sang con, tái hoạt virus viêm gan B, phòng ngừa và điều trị các biểu hiện ngoài gan có liên quan đến HBV.

Tiêu chí điều trị

Điều trị được coi là có xu hướng thành công khi đạt được một trong các tiêu chí sau:

– Ức chế nồng độ HBV-DNA dài hạn (tiêu chí chính).

– Mất HBeAg, có hoặc không có chuyển đổi huyết thanh anti-HBe (ở bệnh nhân có HBeAg dương tính). Đây là tiêu chí có giá trị vì nó đại diện cho sự kiểm soát miễn dịch một phần về nhiễm HBV mạn tính.

– ALT trở về bình thường (tiêu chí này thường đạt được ở hầu hết các bệnh nhân có ức chế sao chép HBV dài hạn nên được coi là tiêu chí bổ sung).

– Mất HBsAg, có hoặc không có chuyển đổi huyết thanh anti-HBs. Đây là tiêu chí tối ưu vì thể hiện sự ức chế mạnh sự sao chép HBV.

Các trường hợp cần chỉ định điều trị

Không phải tất cả các trường hợp mắc viêm gan B mạn đều cần chỉ định điều trị, cụ thể:

Các thuốc điều trị viêm gan B mạn tính

Có 2 nhóm thuốc:

Các thuốc trên có tác dụng ức chế sự nhân lên của virus viêm gan B. Bệnh nhân cần tuân thủ chặt chẽ hướng dẫn sử dụng để tránh tạo ra các chủng virus kháng thuốc. Tổ chức Y tế thế giới WHO khuyến nghị nên sử dụng các thuốc có hàng rào kháng thuốc cao như TDF hoặc ETV. Các thuốc dạng uống thường ít tác dụng phụ hoặc nhẹ. Adefovir và Tenofovir có thể gây độc cho thận (ít xảy ra).

Xem xét ngừng thuốc ức chế sao chép virus đường uống khi:

– Trường hợp HBeAg (+): dừng uống nếu sau 6-12 tháng có chuyển đổi huyết thanh HBeAg và HBV-DNA dưới ngưỡng phát hiện.

– Trường hợp HBeAg (-): dừng uống nếu HBV-DNA dưới ngưỡng phát hiện trong 3 lần xét nghiệm liên tiếp cách nhau mỗi 6 tháng.

Tuy nhiên vẫn cần theo dõi tái phát sau khi ngừng thuốc để điều trị lại.

Thuốc tiêm interferon

Có tác dụng kích thích miễn dịch của cơ thể nhằm tiêu diệt các tế bào bị virus tấn công. Hiện có 2 loại thuốc:

– Interferon alfa-2b: tiêm dưới da 3-5 lần/tuần

– Peg-interferon alfa-2b: tiêm dưới da 1 lần/tuần

Lưu ý với thuốc tiêm:

– Không nên dùng đối với người già hoặc bệnh nhân xơ gan mất bù

– Ít đáp ứng đối với bệnh nhân có ALT và HBV-DNA thấp trước khi điều trị, người mắc bệnh đã lâu.

– Liệu trình thường kéo dài 6-12 tháng.

– Các thuốc tiêm thường có nhiều tác dụng phụ, phổ biến nhất là triệu chứng giả cúm, mệt mỏi, buồn nôn, nôn, chán ăn. Có thể gây dị ứng, rụng tóc, rối loạn tâm thần.

Điều trị viêm gan B bằng đông y

Theo quan điểm đông y, không phân thành bệnh viêm gan mà gọi chung là hoàng đản (chứng vàng da). Theo y văn, hoàng đản nguyên nhân chủ yếu do thấp nhiệt uất kết trong tỳ vị, ảnh hưởng đến can, sinh ra mắt vàng, mặt vàng rồi toàn thân đều vàng, nước tiểu vàng sẫm. Nếu độc khí của thấp nhiệt lưu lại không tiêu được sẽ làm cho người bệnh càng ngày càng ăn kém, gan càng ngày càng to. Đông y phân ra 2 chứng hoàng đản là Dương hoàng và Âm hoàng. Dương hoàng chữa bằng thanh nhiệt, lợi thấp. Âm hoàng chữa bằng ôn hóa hàn thấp. Các dược liệu được sử dụng để điều trị viêm gan B bằng đông y không có tác dụng tiêu diệt hoặc ức chế sự nhân lên của virus, mà tác dụng chủ yếu là tăng cường chức năng gan, bảo vệ gan, lợi mật, thanh nhiệt, giúp làm giảm các triệu chứng của bệnh như vàng da, vàng mắt, mất ngủ, ăn uống không tiêu, mệt mỏi. Một số dược liệu thường dùng như:

– Diệp hạ châu, cà gai leo, cây kế sữa: đây là những thảo dược phổ biến nhất trong các bệnh liên quan đến gan, giúp giải độc gan và làm giảm tổn thương tế bào gan

– Actiso: lợi mật, thanh nhiệt lợi tiểu, bảo vệ tế bào gan

– Cúc gai, ngũ vị tử: giúp hạ men gan, tăng cường chức năng gan

– Nghệ vàng: bảo vệ tế bào gan, ngăn ngừa khả năng dẫn đến ung thư gan.

Tuy nhiên cần lưu ý, phương pháp dùng dược liệu chỉ nên được coi là phương pháp hỗ trợ trong điều trị viêm gan B mạn tính. Đặc biệt với bệnh nhân đang ở giai đoạn virus tiến triển thì tuyệt đối không nên chỉ sử dụng thảo dược mà nhất thiết phải được điều trị bằng các thuốc kháng virus như trên theo chỉ định của bác sĩ. Ngoài ra, khi sử dụng phương pháp Đông y để chữa viêm gan B, người bệnh cũng nên thận trọng bởi không phải dược liệu nào cũng vô hại, nếu sử dụng dược liệu không có nguồn gốc rõ ràng hoặc có tương tác với các thuốc Tây đang dùng cũng sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho gan.

Điều chỉnh chế độ ăn uống và sinh hoạt

Song song với việc dùng các thuốc điều trị, bệnh nhân viêm gan B cũng cần đặc biệt lưu ý đến việc điều chỉnh lối sống của mình để đạt hiệu quả điều trị tốt nhất:

– Tránh uống rượu bia, các đồ uống có cồn, tránh sử dụng chất kích thích và hút thuốc.

– Hạn chế đồ ăn nhiều dầu mỡ, đồ ăn khó tiêu, không ăn cay nóng.

– Ăn nhiều hoa quả, ngũ cốc nguyên hạt, cá, thịt nạc và nhiều rau. Các loại rau họ cải như cải bắp, bông cải xanh, súp lơ…đã được chứng minh là giúp bảo vệ gan chống lại các chất độc hại ngoài môi trường.

– Tránh ăn các động vật có vỏ sống hoặc tái (ngao, trai, hàu, sò điệp…) vì chúng có thể bị nhiễm khuẩn Vibrio vulnificus, rất độc cho gan.

– Kiểm tra kỹ các loại thực phẩm dễ bị nhiễm nấm mốc (các loại ngũ cốc, gạo, đậu, lạc…) vì nấm mốc có chứa độc tố aflatoxin có thể gây ung thư gan.

– Hạn chế tiếp xúc hoặc hít phải các hóa chất gây độc cho gan như sơn, keo, chất tẩy rửa vệ sinh, sơn móng tay…

– Không sử dụng tùy tiện các loại thuốc mà không được nhân viên y tế tư vấn (vì có nhiều loại thuốc có thể gây độc cho gan).

– Kiểm tra tình trạng viêm gan thường xuyên để phòng ngừa biến chứng xơ gan, ung thư gan.

– Tập thể dục thể thao phù hợp tình trạng bệnh tật, lưu ý với viêm gan cấp thì nên nghỉ ngơi tuyệt đối.

Tổng Quan Phương Pháp Điều Trị

– Bệnh Viêm Gan B –

Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ mắc viêm gan B rất cao, cứ khoảng 8 người sẽ có 1 người mắc viêm gan B mạn, đây là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư gan. Khoảng 40% các ca tử vong do ung thư tại Việt Nam có liên quan đến viêm gan B. Điều trị viêm gan B hiện nay đã có phác đồ cụ thể và nhiều thuốc mới được nghiên cứu, tuy nhiên, tỷ lệ thất bại điều trị vẫn khá cao.

Vacxin viêm gan B đã được tìm ra từ năm 1982, đây là loại vacxin có hiệu quả đến 95% trong việc phòng ngừa nhiễm virus và phát triển thành bệnh mãn tính hoặc ung thư gan. Tuy nhiên mỗi năm vẫn có khoảng 600.000 ca tử vong trên thế giới do viêm gan B. Số người mắc viêm gan B mạn là khoảng 240 triệu người, con số này thậm chí cao gấp 7 lần so với số người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới. Điều đó cho thấy việc chữa trị viêm gan B hiện nay vẫn đang là một thách thức đối với nền y học hiện đại.

Có những loại viêm gan B nào?

Virus viêm gan B có thể lây từ người sang người qua các con đường: tiếp xúc với máu hoặc dịch cơ thể của bệnh nhân viêm gan B, quan hệ tình dục hoặc lây từ mẹ sang con. Virus viêm gan B có thể tồn tại trong cơ thể 7 ngày, nếu hệ miễn dịch của cơ thể yếu, hoặc không được bảo vệ bởi vacxin, virus sẽ phát triển và bắt đầu gây hại cho gan. Khi virus viêm gan B xâm nhập được vào cơ thể, bệnh nhân sẽ trải qua các giai đoạn:

– Phơi nhiễm với virus: là giai đoạn sớm sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh (khoảng 7 ngày sau khi phơi nhiễm qua đường máu hoặc từ mẹ sang con, khoảng 14 ngày sau phơi nhiễm qua đường tình dục).

– Viêm gan B cấp: là giai đoạn 6 tháng đầu tiên sau khi phơi nhiễm với virus viêm gan B. 90% người lớn khỏe mạnh sẽ tự loại bỏ được virus và hoàn toàn bình phục mà không gặp vấn đề gì. 10% sẽ tiến triển thành viêm gan mạn. Nhưng đối với trẻ nhỏ từ 1-5 tuổi, thì tỉ lệ tiến triển thành viêm gan mạn là 50%, đặc biệt với trẻ sơ sinh bị lây từ mẹ sang thì tỉ lệ này là 90%. Một số rất ít người mắc viêm gan B cấp (1%) bị tiến triển thành viêm gan tối cấp và có thể tử vong do suy gan.

– Viêm gan B mạn: sau 6 tháng phơi nhiễm với virus, nếu xét nghiệm vẫn dương tính với virus viêm gan B (HBsAg+) thì được chẩn đoán là nhiễm viêm gan B mạn, có thể kéo dài suốt đời. Hiện đã có các loại thuốc hiệu quả điều trị viêm gan B mạn, tuy nhiên bệnh nhân vẫn cần thăm khám theo dõi sàng lọc ung thư gan định kỳ. Bởi nếu không được điều trị và theo dõi đúng cách, khoảng ¼ người mắc viêm gan B mạn sẽ tử vong do xơ gan, ung thư gan hoặc suy gan.

Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm virus viêm gan B

Sau khi phơi nhiễm với virus, người bệnh cần được điều trị ngay lập tức với Globulin miễn dịch kháng viêm gan B (HBIG):

– Nếu chưa tiêm phòng vacxin viêm gan B trước đó: tiêm 1 liều HBIG trong 24 giờ đầu sau phơi nhiễm (200-400 IU), đồng thời tiêm vacxin phòng viêm gan B mũi đầu tiên tại một vị trí tiêm khác. Sau đó cần tiêm đủ 3 liều vacxin trong vòng 6 tháng (tại các thời điểm 0, 1 và 6 tháng). Nếu có tiền sử không đáp ứng với vacxin viêm gan B, cần tiêm thêm 1 liều HBIG vào tháng tiếp theo.

– Nếu đã đạt mức HBsBAg ≥ 10mIU/mL tức là đã đạt miễn dịch bảo vệ và không cần tiêm tiếp HBIG hoặc vacxin.

– Xét nghiệm lại anti-HBs, HBsAg và ALT sau 6 tháng để đánh giá lại.

Điều trị viêm gan B cấp

Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, điều trị viêm gan B cấp chủ yếu là hỗ trợ:

– Nghỉ ngơi tuyệt đối trong thời gian có triệu chứng lâm sàng.

– Hạn chế ăn chất béo, kiêng rượu bia, tránh sử dụng các thuốc chuyển hóa qua gan.

– Xem xét nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch nếu cần thiết.

– Có thể sử dụng các thuốc bổ trợ gan.

Riêng đối với thể viêm gan tối cấp: cần điều trị hồi sức nội khoa tích cực, có thể cân nhắc sử dụng thuốc kháng virus đường uống.

Điều trị viêm gan B mạn

Mục tiêu điều trị

Theo hướng dẫn thực hành lâm sàng của Hiệp hội nghiên cứu bệnh gan châu Âu (EASL) 2017 về xử trí nhiễm virus viêm gan B, mục tiêu của điều trị viêm gan B mạn là cải thiện sự sống còn và chất lượng cuộc sống bằng cách phòng ngừa sự tiến triển của bệnh, ngăn chặn phát triển thành ung thư biểu mô tế bào gan. Các mục tiêu bổ sung của liệu pháp kháng virus là phòng ngừa lây truyền từ mẹ sang con, tái hoạt virus viêm gan B, phòng ngừa và điều trị các biểu hiện ngoài gan có liên quan đến HBV.

Tiêu chí điều trị

Điều trị được coi là có xu hướng thành công khi đạt được một trong các tiêu chí sau:

– Ức chế nồng độ HBV-DNA dài hạn (tiêu chí chính).

– Mất HBeAg, có hoặc không có chuyển đổi huyết thanh anti-HBe (ở bệnh nhân có HBeAg dương tính). Đây là tiêu chí có giá trị vì nó đại diện cho sự kiểm soát miễn dịch một phần về nhiễm HBV mạn tính.

– ALT trở về bình thường (tiêu chí này thường đạt được ở hầu hết các bệnh nhân có ức chế sao chép HBV dài hạn nên được coi là tiêu chí bổ sung).

– Mất HBsAg, có hoặc không có chuyển đổi huyết thanh anti-HBs. Đây là tiêu chí tối ưu vì thể hiện sự ức chế mạnh sự sao chép HBV.

Các trường hợp cần chỉ định điều trị

Không phải tất cả các trường hợp mắc viêm gan B mạn đều cần chỉ định điều trị, cụ thể:

Các thuốc điều trị viêm gan B mạn tính

Có 2 nhóm thuốc:

Các thuốc trên có tác dụng ức chế sự nhân lên của virus viêm gan B. Bệnh nhân cần tuân thủ chặt chẽ hướng dẫn sử dụng để tránh tạo ra các chủng virus kháng thuốc. Tổ chức Y tế thế giới WHO khuyến nghị nên sử dụng các thuốc có hàng rào kháng thuốc cao như TDF hoặc ETV. Các thuốc dạng uống thường ít tác dụng phụ hoặc nhẹ. Adefovir và Tenofovir có thể gây độc cho thận (ít xảy ra).

Xem xét ngừng thuốc ức chế sao chép virus đường uống khi:

– Trường hợp HBeAg (+): dừng uống nếu sau 6-12 tháng có chuyển đổi huyết thanh HBeAg và HBV-DNA dưới ngưỡng phát hiện.

– Trường hợp HBeAg (-): dừng uống nếu HBV-DNA dưới ngưỡng phát hiện trong 3 lần xét nghiệm liên tiếp cách nhau mỗi 6 tháng.

Tuy nhiên vẫn cần theo dõi tái phát sau khi ngừng thuốc để điều trị lại.

Thuốc tiêm interferon

Có tác dụng kích thích miễn dịch của cơ thể nhằm tiêu diệt các tế bào bị virus tấn công. Hiện có 2 loại thuốc:

– Interferon alfa-2b: tiêm dưới da 3-5 lần/tuần

– Peg-interferon alfa-2b: tiêm dưới da 1 lần/tuần

Lưu ý với thuốc tiêm:

– Không nên dùng đối với người già hoặc bệnh nhân xơ gan mất bù

– Ít đáp ứng đối với bệnh nhân có ALT và HBV-DNA thấp trước khi điều trị, người mắc bệnh đã lâu.

– Liệu trình thường kéo dài 6-12 tháng.

– Các thuốc tiêm thường có nhiều tác dụng phụ, phổ biến nhất là triệu chứng giả cúm, mệt mỏi, buồn nôn, nôn, chán ăn. Có thể gây dị ứng, rụng tóc, rối loạn tâm thần.

Điều trị viêm gan B bằng đông y

Theo quan điểm đông y, không phân thành bệnh viêm gan mà gọi chung là hoàng đản (chứng vàng da). Theo y văn, hoàng đản nguyên nhân chủ yếu do thấp nhiệt uất kết trong tỳ vị, ảnh hưởng đến can, sinh ra mắt vàng, mặt vàng rồi toàn thân đều vàng, nước tiểu vàng sẫm. Nếu độc khí của thấp nhiệt lưu lại không tiêu được sẽ làm cho người bệnh càng ngày càng ăn kém, gan càng ngày càng to. Đông y phân ra 2 chứng hoàng đản là Dương hoàng và Âm hoàng. Dương hoàng chữa bằng thanh nhiệt, lợi thấp. Âm hoàng chữa bằng ôn hóa hàn thấp. Các dược liệu được sử dụng để điều trị viêm gan B bằng đông y không có tác dụng tiêu diệt hoặc ức chế sự nhân lên của virus, mà tác dụng chủ yếu là tăng cường chức năng gan, bảo vệ gan, lợi mật, thanh nhiệt, giúp làm giảm các triệu chứng của bệnh như vàng da, vàng mắt, mất ngủ, ăn uống không tiêu, mệt mỏi. Một số dược liệu thường dùng như:

– Diệp hạ châu, cà gai leo, cây kế sữa: đây là những thảo dược phổ biến nhất trong các bệnh liên quan đến gan, giúp giải độc gan và làm giảm tổn thương tế bào gan

– Actiso: lợi mật, thanh nhiệt lợi tiểu, bảo vệ tế bào gan

– Cúc gai, ngũ vị tử: giúp hạ men gan, tăng cường chức năng gan

– Nghệ vàng: bảo vệ tế bào gan, ngăn ngừa khả năng dẫn đến ung thư gan.

Tuy nhiên cần lưu ý, phương pháp dùng dược liệu chỉ nên được coi là phương pháp hỗ trợ trong điều trị viêm gan B mạn tính. Đặc biệt với bệnh nhân đang ở giai đoạn virus tiến triển thì tuyệt đối không nên chỉ sử dụng thảo dược mà nhất thiết phải được điều trị bằng các thuốc kháng virus như trên theo chỉ định của bác sĩ. Ngoài ra, khi sử dụng phương pháp Đông y để chữa viêm gan B, người bệnh cũng nên thận trọng bởi không phải dược liệu nào cũng vô hại, nếu sử dụng dược liệu không có nguồn gốc rõ ràng hoặc có tương tác với các thuốc Tây đang dùng cũng sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho gan.

Điều chỉnh chế độ ăn uống và sinh hoạt

Song song với việc dùng các thuốc điều trị, bệnh nhân viêm gan B cũng cần đặc biệt lưu ý đến việc điều chỉnh lối sống của mình để đạt hiệu quả điều trị tốt nhất:

– Tránh uống rượu bia, các đồ uống có cồn, tránh sử dụng chất kích thích và hút thuốc.

– Hạn chế đồ ăn nhiều dầu mỡ, đồ ăn khó tiêu, không ăn cay nóng.

– Ăn nhiều hoa quả, ngũ cốc nguyên hạt, cá, thịt nạc và nhiều rau. Các loại rau họ cải như cải bắp, bông cải xanh, súp lơ…đã được chứng minh là giúp bảo vệ gan chống lại các chất độc hại ngoài môi trường.

– Tránh ăn các động vật có vỏ sống hoặc tái (ngao, trai, hàu, sò điệp…) vì chúng có thể bị nhiễm khuẩn Vibrio vulnificus, rất độc cho gan.

– Kiểm tra kỹ các loại thực phẩm dễ bị nhiễm nấm mốc (các loại ngũ cốc, gạo, đậu, lạc…) vì nấm mốc có chứa độc tố aflatoxin có thể gây ung thư gan.

– Hạn chế tiếp xúc hoặc hít phải các hóa chất gây độc cho gan như sơn, keo, chất tẩy rửa vệ sinh, sơn móng tay…

– Không sử dụng tùy tiện các loại thuốc mà không được nhân viên y tế tư vấn (vì có nhiều loại thuốc có thể gây độc cho gan).

– Kiểm tra tình trạng viêm gan thường xuyên để phòng ngừa biến chứng xơ gan, ung thư gan.

– Tập thể dục thể thao phù hợp tình trạng bệnh tật, lưu ý với viêm gan cấp thì nên nghỉ ngơi tuyệt đối.

ĐIỀU TRỊ BỆNH BẰNG THẢO DƯỢC AN TOÀN & HIỆU QUẢ

MÃ TIỀN CHẾ

Mã tiền là dược liệu quý được sử dụng trong các bài thuốc Y học cổ truyền hàng trăm năm nay. Mã tiền chế thường được dùng như vị thuốc chủ trị có tác dụng thúc đẩy sự vận hành của huyết dịch, giúp trừ khử ứ trệ, thông kinh hoạt lạc, chống viêm, chống tê mỏi, giảm đau nhanh cơn đau xương khớp cũng như giúp điều trị các bệnh lý nhược cơ, bại liệt rất tốt. Mã tiền chưa qua chế biến chứa độc tố nên chỉ dùng ngâm rượu xoa bóp bên ngoài để điều trị đau nhức xương khớp. Trong khi đó, mã tiền qua chế biến, loại bỏ độc tính, dùng đường uống phát huy hiệu quả rõ rệt và tác dụng nhanh hơn. Có rất nhiều bài thuốc dân gian chữa phong thấp hiệu quả sử dụng vị thuốc Mã tiền chế làm thành phần chính.

👉 Tác Dụng Thần Kỳ Của Mã Tiền Chế

ĐƯƠNG QUY

Đương quy (Radix Angelicae sinensis) là rễ phơi hoặc sấy khô của cây đương quy, là vị thuốc có mặt trong 80 bài thuốc y học cổ truyền Trung Hoa cách đây hàng ngàn năm. Trong tên gọi của đương quy, quy có nghĩa là về. Đặt tên như vậy là vì vị thuốc này có tác dụng điều hòa khí huyết, làm cho huyết trở về đúng vị trí. Đương quy còn được gọi là nhân sâm dành cho phụ nữ vì được sử dụng trong các bài thuốc bắc điều trị  các bệnh của phụ nữ.

Theo đông y, đương quy vị ngọt, cay tính ôn; vào 3 kinh: tâm, can, và tỳ; có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông, là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiều đơn thuốc bổ và trị bệnh khác.

ĐỖ TRỌNG

Tên gọi khác: Tự trọng, Ngọc tỳ bi Tên khoa học: Eucommia ulmoides Oliv. Họ thực vật:  Đỗ trọng Eucommiaceae

Là vị thuốc từ vỏ phơi khô của cây đỗ trọng,  được sử dụng hàng ngàn năm nay với công năng kỳ diệu, mang đầy tính huyền thoại. Các thầy thuốc dùng đỗ trọng làm vị thuốc chủ đạo trong các bài thuốc điều trị phong thấp, tê ngứa, đau lưng dưới, đau đầu gối, ngăn ngừa sảy thai, hạ huyết áp. Khoa học hiện đại đã kiểm chứng một số tác dụng của đỗ trọng theo đông y và cho kết quả khả quan. Không những vậy, đỗ trọng còn có ý nghĩa trong tìm kiếm phương pháp điều trị mới cho các bệnh nan y. Ngày nay, ngoài các phương pháp chế biến truyền thống như sao đen, dùng sống, ngâm rượu, trên thị trường đã có thêm các chế phẩm bào chế hiện đại của đỗ trọng nhằm tiện lợi cho người dùng.

ĐỘC HOẠT

Độc hoạt là rễ phơi khô của cây độc hoạt, chứa nhiều chất coumarin nên có mùi thơm dễ chịu. Theo Đông y, độc hoạt vị cay đắng, tính ôn; vào kinh can, thận và bàng quang, có tác dụng tán phong hàn thấp tà, nhất là về mặt trừ phong giảm đau, dùng chữa trị phong thấp, đau khớp, thiên về phong tà, chân tay co quắp, đau lưng, nhức gối mà đau di chuyển chỗ này sang chỗ khác. Hễ cơ nhục, các khớp tê bởi hàn thấp tà, không dùng loại khí vị mănh liệt này, thì không thể nhập thẳng đến giữa kinh mạch khớp xương, vì vậy Độc hoạt là thuốc trị các chứng nặng về phong tê mềm yếu ắt không thể thiếu được.

Ngoài ra Độc hoạt còn dùng cả cho các chứng bệnh do phong, đau đầu, hoa mắt và đau sưng răng.

ĐIỀU TRỊ BỆNH BẰNG THẢO DƯỢC AN TOÀN & HIỆU QUẢ

Mã Tiền Chế

Mã tiền là dược liệu quý được sử dụng trong các bài thuốc Y học cổ truyền hàng trăm năm nay. Mã tiền chế thường được dùng như vị thuốc chủ trị có tác dụng thúc đẩy sự vận hành của huyết dịch, giúp trừ khử ứ trệ, thông kinh hoạt lạc, chống viêm, chống tê mỏi, giảm đau nhanh cơn đau xương khớp cũng như giúp điều trị các bệnh lý nhược cơ, bại liệt rất tốt. Mã tiền chưa qua chế biến chứa độc tố nên chỉ dùng ngâm rượu xoa bóp bên ngoài để điều trị đau nhức xương khớp. Trong khi đó, mã tiền qua chế biến, loại bỏ độc tính, dùng đường uống phát huy hiệu quả rõ rệt và tác dụng nhanh hơn. Có rất nhiều bài thuốc dân gian chữa phong thấp hiệu quả sử dụng vị thuốc Mã tiền chế làm thành phần chính.

👉 Tác Dụng Thần Kỳ Của Mã Tiền Chế

ĐƯƠNG QUY

Đương quy (Radix Angelicae sinensis) là rễ phơi hoặc sấy khô của cây đương quy, là vị thuốc có mặt trong 80 bài thuốc y học cổ truyền Trung Hoa cách đây hàng ngàn năm. Trong tên gọi của đương quy, quy có nghĩa là về. Đặt tên như vậy là vì vị thuốc này có tác dụng điều hòa khí huyết, làm cho huyết trở về đúng vị trí. Đương quy còn được gọi là nhân sâm dành cho phụ nữ vì được sử dụng trong các bài thuốc bắc điều trị  các bệnh của phụ nữ. Theo đông y, đương quy vị ngọt, cay tính ôn; vào 3 kinh: tâm, can, và tỳ; có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông, là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiều đơn thuốc bổ và trị bệnh khác.

ĐỖ TRỌNG

Tên gọi khác: Tự trọng, Ngọc tỳ bi Tên khoa học: Eucommia ulmoides Oliv. Họ thực vật:  Đỗ trọng Eucommiaceae

Là vị thuốc từ vỏ phơi khô của cây đỗ trọng,  được sử dụng hàng ngàn năm nay với công năng kỳ diệu, mang đầy tính huyền thoại. Các thầy thuốc dùng đỗ trọng làm vị thuốc chủ đạo trong các bài thuốc điều trị phong thấp, tê ngứa, đau lưng dưới, đau đầu gối, ngăn ngừa sảy thai, hạ huyết áp. Khoa học hiện đại đã kiểm chứng một số tác dụng của đỗ trọng theo đông y và cho kết quả khả quan. Không những vậy, đỗ trọng còn có ý nghĩa trong tìm kiếm phương pháp điều trị mới cho các bệnh nan y. Ngày nay, ngoài các phương pháp chế biến truyền thống như sao đen, dùng sống, ngâm rượu, trên thị trường đã có thêm các chế phẩm bào chế hiện đại của đỗ trọng nhằm tiện lợi cho người dùng.

ĐỌC HOẠT

Độc hoạt là rễ phơi khô của cây độc hoạt, chứa nhiều chất coumarin nên có mùi thơm dễ chịu. Theo Đông y, độc hoạt vị cay đắng, tính ôn; vào kinh can, thận và bàng quang, có tác dụng tán phong hàn thấp tà, nhất là về mặt trừ phong giảm đau, dùng chữa trị phong thấp, đau khớp, thiên về phong tà, chân tay co quắp, đau lưng, nhức gối mà đau di chuyển chỗ này sang chỗ khác. Hễ cơ nhục, các khớp tê bởi hàn thấp tà, không dùng loại khí vị mănh liệt này, thì không thể nhập thẳng đến giữa kinh mạch khớp xương, vì vậy Độc hoạt là thuốc trị các chứng nặng về phong tê mềm yếu ắt không thể thiếu được.

Ngoài ra Độc hoạt còn dùng cả cho các chứng bệnh do phong, đau đầu, hoa mắt và đau sưng răng.

TRUNG TÂM TƯ VẤN SỨC KHỎE

  • G.Đ TRUNG TÂM

  • B.S. PHẠM HƯNG CỦNG

  • Nguyên Vụ Trưởng VỤ YHCT - Bộ Y Tế

Bác Sĩ Chuyên Khoa 2/ Thầy thuốc ưu tú Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT Quốc Tế Hồng Kông

> LIÊN HỆ TRUNG TÂM BÁC SĨ TƯ VẤN

1800 - 6036

Cửa sổ tin nhắn

VNBACSI.net

Tham Gia Cộng Đồng:

+ Tư Vấn Bệnh Xương Khớp

+ Tư Vấn Bệnh Tiêu Hóa

+Tư Vấn Bệnh Tiểu Đường

> NHẬN TƯ VẤN TỪ CHUYÊN GIA







TRUNG TÂM B.S. TƯ VẤN 

Th.S. B.S. CKII - PHẠM HƯNG CỦNG

  • Nguyên Vụ Trưởng Vụ YHCT - Bộ Y Tế
  • Thầy thuốc ưu tú - Chủ tịch danh dự Hội NC YHCT quốc tế Hồng Kông
  • Phó Viện trưởng Viện châm cứu Việt Nam
  • Phó Viện trưởng Viện Khoa học ứng dụng Y học dân tộc và Dưỡng sinh Việt Nam
  • Được Bộ y tế trao tặng giải thưởng Hải Thượng Nãn Ông Lê Hữu Trác.

Trưởng Khoa Đông Y - Bệnh Viện Quân Đội 108

  • Đại Tá - Thạc sĩ Bác sĩ: HOÀNG KHÁNH TOÀN
  • Trưởng Khoa Đông Y Bệnh Viện Quân Đội 108.
  • Ông có nhiều nghiên cứu Đông y tốt cho sức khỏe. Bác sĩ được trao tặng danh hiệu Thầy Thuốc Ưu Tú

> LIÊN HỆ TRUNG TÂM BÁC SĨ TƯ VẤN

1800 - 6036

Cửa sổ tin nhắn

VNBACSI.net







— QUẢNG CÁO —
.

————————————

— QUẢNG CÁO —

BÀI VIẾT HAY NÊN ĐỌC

BÁC SĨ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ BỆNH:

BÁC SĨ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ BỆNH:

2019-05-04T10:54:41+02:00April 24th, 2019|GAN, HOME PAGE|0 Comments

Leave A Comment

error: